vanban.org

Bản án 12/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Lộc, TP. Huế Tuyên án 12/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Phương L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị Phương L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 16/12/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Phương L, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Phương L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LỘC
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HSST
Ngày: 12-4-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Khả.

2. Bà Trần Thị Xuân Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2019/TLST-HS, ngày 18/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HS ngày 01/4/2019 đối với bị cáo:

Bùi Thị Phương L; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 20/8/1988, tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Tổ A, khu vực A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ làm trầm; trình độ văn hóa: Cao đẳng du lịch; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang K và bà Nguyễn Thị D; chồng, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2018 cho đến nay, có mặt.

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 12/2018, Bùi Thị Phương L có quen biết một người tên “Nhung” thông qua mạng xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể). Sau khi cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà nghỉ ở xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì người tên “Nhung” cho Bùi Thị Phương L 10 (mười) viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và 05 (năm) gói ni lông chứa ma túy tổng hợp dạng đá để sử dụng. Khoảng 20 giờ 10 phút, ngày 16/12/2018, Bùi Thị Phương L đi xe buýt từ Huế vào Đà Nẵng, trên đường đi L xuống xe và thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ N ở thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế để sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành thu giữ trên người Bùi Thị Phương L 01 (một) túi xách màu nâu, bên trong có 05 gói ni lông màu trắng được khằn kín bên ngoài, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 gói ni lông màu trắng được khằn kín bên ngoài, bên trong có chứa 10 viên nén dạng hình trụ tròn, màu đỏ, có chữ WY.

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) gói ni lông màu trắng được khằn kín bên ngoài, bên trong chứa 10 viên nén dạng hình trụ tròn, màu đỏ, có chữ WY;

- 05 gói ni lông màu trắng được khằn kín bên ngoài, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 01 (một) túi xách cá nhân, màu nâu, có chiều dài 20cm, chiều rộng 09cm, chiều cao 25cm kể cả quai túi xách.

Tại kết luận giám định số: 478/GĐ ngày 18/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận:

1. 10 (mười) viên nén đều có màu đỏ trong gói niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định (có dạng hình trụ tròn màu đỏ, trên một mặt của mỗi viên có chữ “WY”, đường kính mỗi viên là 0,6cm, chiều cao mỗi viên là 0,3cm), có tổng khối lượng là 0,9659g (không phẩy chín sáu năm chín gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

2. Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định (mẫu tinh thể rắn màu trắng được đựng trong 05 gói ni lông màu trắng), có tổng khối lượng là 0,7150g (không phẩy bảy một năm không gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

Sau khi giám định hoàn lại 0,5659g mẫu bột được nghiền từ 10 (mười) viên nén màu đỏ trong gói niêm phong ký hiệu A1; 0,5150g mẫu tinh thể rắn màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu A2.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 14/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo Bùi Thị Phương L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thị Phương L từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 1,0809g ma túy hoàn lại sau khi giám định; 01 (một) túi xách cá nhân, màu nâu, có chiều dài 20cm, chiều rộng 09cm, chiều cao 25cm kể cả quai túi xách.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Thị Phương L khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã xác định, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được kiểm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Phú Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Phương L đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 10 phút, ngày 16/12/2018, tại nhà nghỉ N ở thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Bùi Thị Phương L đã có hành vi cất giấu trái phép 1,6809g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, cất giấu bất hợp pháp ma túy trong người để sử dụng. Lượng ma túy bị cáo cất giấu trái phép là 1,6809g ma túy loại Methamphetamine. Đây là chất ma túy nằm trong danh mục IIB số thứ tự 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 14/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ quyết định hình phạt thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy hoàn lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) túi xách cá nhân thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác: Quá trình điều tra không xác định được đối tượng tên “Nhung” là người cho bị cáo Bùi Thị Phương L ma túy nên chưa có căn cứ để xử lý. Đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Phương L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Phương L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 16/12/2018).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy:

- 0,5659g mẫu bột được nghiền từ 10 (mười) viên nén màu đỏ trong gói niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định; 0,5150g mẫu tinh thể rắn màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Nguyễn Hoàng T, 02 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và dòng chữ “Hoàn mẫu vật vụ Bùi Thị Phương L, bắt ngày 16/12/2018, A1, A2”.

- 01 (một) túi xách cá nhân, màu nâu, có chiều dài 20cm, chiều rộng 09cm, chiều cao 25cm kể cả quai túi xách.

(Các vật chứng nêu trên đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lộc).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Bùi Thị Phương L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ