vanban.org

Bản án 12/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H và Q mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HS-ST
Ngày: 24/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Phúc

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chiến

Ông Đỗ Gia Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hạnh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Công Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 345/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Huy H, sinh năm 1979; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm Đ, thôn T, xã T2, huyện T3, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy H2 và bà Triệu Thị V; Vợ: Phạm Thị Thu H3; Có 02 con: con nhỏ sinh năm 2008, con lớn sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/9/1997, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 (ba) năm tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/8/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội;

2. Nguyễn Thị Q, sinh năm 1996; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: tổ H4, phường T4, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tuấn H5 và bà Tạ Thị L; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 05/8/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 1h ngày 03/8/2018, Nguyễn Huy H5 gọi điện thoại cho Nguyễn Huy H nói sẽ đến phòng trọ của H và Nguyễn Thị Q tại ngõ 30 Phùng Khoang, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội để sử dụng ma túy, H đồng ý. H5 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS 29M1-201.20 đón Nguyễn Đức T5 đến phòng trọ của H. Khi đi, T5 mang theo 01 hộp điện thoại, bên trong có 01 bộ tẩu tự tạo để sử dụng ma túy. Khi đến phòng trọ thì có H và Bùi Văn C đang ở trong phòng. Tại đây, H lấy ma túy đá của H cho vào tẩu để cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 3h sáng cùng ngày, Q và Đào Quang D đi chơi về và cùng sử dụng ma túy. H đưa cho Q 01 túi nilon màu đen, bên trong có 02 gói ma túy đá và cân điện tử, mục đích để bán. Q cầm gói ma túy để lại trên đệm rồi cùng D đi ra ngoài. Đến khoảng 5h sáng cùng ngày, Q và D quay về phòng trọ đem theo đồ uống và 01 bộ tú lơ khơ. Q lấy một ít ma túy trong túi nilon màu đen mà trước đó H đưa để cùng nhau sử dụng. Bùi Văn C lên gác xép ngủ. H, H5, T5 và Q vừa sử dụng ma túy, vừa đánh bạc bằng hình thức đánh tá lả sát phạt nhau bằng tiền, mức chơi 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng, không có phỏm 40.000 đồng, ù 50.000 đồng. Đến 7h sáng ngày 03/8/2018, Tổ công tác Công an phường Trung Văn kiểm tra hành chính, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm có:

- Thu giữ dưới sàn nhà của Nguyễn Thị Q: 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 túi nilon kích thước khoảng 3x4 cm chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); 01 hộp đựng điện thoại nhãn hiệu Oppo bên trong có 01 gói nilon kích thước 3x4cm chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2); 01 gói nilon kích thước khoảng 5x15cm bên trong có 05 gói nilon kích thước khoảng 1x2 cm chứa tinh thể màu trắng và 01 gói nilon kích thước khoảng 2x3 cm chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3); 01 gói nilon kích thước khoảng 3x4 cm dính tinh thể màu trắng và 03 gói nilon kích thước khoảng 1x1 cm dính tinh thể màu trắng (ký hiệu M4); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (ký hiệu M5); 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu đen; 710.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

- Thu giữ của Nguyễn Huy H: 01 cân điện tử (ký hiệu M6); 01 gói nilon kích thước 2x2 cm có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M7); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo X9006; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu hồng.

- Thu giữ của Đào Quang D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S8 màu đen; số tiền 3.000.000 đồng;

- Thu giữ của Nguyễn Huy H5: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu trắng; số tiền 5.700.000 đồng; 01 ví da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Huy H5; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS 29M1-201.20.

- Thu giữ của Nguyễn Đức T5: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen; 01 ví da màu đen, bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

- Thu giữ của Bùi Văn C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310 màu ghi.

Tại Bản kết luận giám định số 6512 ngày 10/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon màu đen (ký hiệu M1) đều là loại ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng 5,824 gam;

- Tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon (ký hiệu M2) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,294 gam;

- Tinh thể màu trắng bên trong 06 gói nilon (ký hiệu M3) đều là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,111 gam;

- 04 gói nilon (ký hiệu M4) đều có dính ma túy loại Methamphetamine;

- 01 bộ tẩu hút tự tạo (ký hiệu M5) có đính ma túy loại Methemphetamine;

- 01 cân điện tử màu đen (ký hiệu M6) có đính ma túy loại Methamphetamine;

- Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon (ký hiệu M7) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,588 gam.

Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Huy H khai mua số ma túy của một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch ở xóm Đình, Triều Khúc, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội với giá 4.000.000 đồng, mục đích để bán cho các con nghiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, rà soát nhưng chưa xác định được đối tượng bán ma túy cho H nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tại cơ quan điều tra, H và Q khai nhận trong ngày 27/8/2018, H và Q đã 02 lần đưa ma túy cho C để bán cho khách. C khai có nhận ma túy của Q 02 lần nhưng để sử dụng và trả Q 500.000 đồng, số tiền này Q đưa cho H, H đưa lại cho Q 100.000 đồng.

Đối với hành vi đánh bạc của Q, H, H5 và T5: số tiền tang vật thu giữ trên cH5 bạc là 710.000 đồng, không cấu thành tội phạm, nên Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính 1.500.000 đồng đối với H, Q, H5 và T5 về hành vi Đánh bạc trái phép theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP. Ngày 22/8/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã xử phạt cảnh cáo đối với T5, H5, C và D về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS 29M1-201.20 là xe của Nguyễn Huy H5, H5 khai bị mất giấy tờ xe, chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 25/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã trả lại Nguyễn Huy H5 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS 29M1-201.20; 01 điện thoại di động Huawei; 01 ví da; 01 thẻ căn cước; 5.700.000 đồng.

Ngày 25/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã trả lại Đào Quang D 01 điện thoại Samsung S8 và 3.000.000 đồng; trả lại Nguyễn Đức T5 01 điện thoại di động Philips, 01 ví da bên trong có 100.000 đồng; trả lại Bùi Văn C 01 điện thoại di động Nokia 3310 màu ghi.

Quá trình điều tra: Bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Thị Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 24/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Thị Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Thị Q khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy thu giữ; tịch thu tiêu hủy cân điện tử, bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bộ bài tú lơ khơ; tịch thu sung quỹ nhà nước 710.000 đồng và 02 điện thoại thu giữ của bị cáo H, 01 điện thoại thu giữ của bị cáo Q. Buộc bị cáo Q truy nộp sung quỹ nhà nước 100.000 đồng, buộc bị cáo H truy nộp sung quỹ nhà nước 400.000 đồng. Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Thị Q khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/8/2018 H và Q đã 02 bán ma túy cho Bùi Văn C với giá 500.000 đồng, trong đó Q được 100.000 đồng, còn 400.000 đồng H giữ. Ngày 03/8/2018 tại phòng trọ ngõ 30 Phùng Khoang, phường Trung Văn, Cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm kiểm tra hành chính, thu giữ của Q 5,824 gam Methamphetamine do H đưa để bán, thu giữ tại phòng trọ 1,111 gam và 1,294 gam Methamphetamine; H giao nộp thêm 0,588 gam Methamphetamine (tổng khối lượng 8,817gam Methamphetamin). H khai nhận toàn bộ số ma túy trên H mua để bán.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với bị cáo H: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về hành vi tổ chức dùng chất ma túy. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Đối với bị cáo Q: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy, cân điện tử và bộ bài tú lơ khơ, hộp đựng điện thoại cần tịch thu tiêu hủy; điện thoại và 710.000 đồng thu giữ cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Cần buộc bị cáo Nguyễn Huy H truy nộp sung quỹ nhà nước 400.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Q truy nộp sung quỹ nhà nước 100.000 đồng tiền bán ma túy mà có.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Huy H và Nguyễn Thị Q không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về đề nghị của Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Huy H từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thị Q từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù là chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không kH5 nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015;

- Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2018.

Căn cứ vào:

- Điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015;

- Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 8(tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2018.

Căn cứ vào:

- Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015;

- Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Q, cán bộ Nguyễn Văn H5 và GĐV Trần Ngọc Chinh (ký hiệu M1); 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Q, cán bộ Nguyễn Văn H5 và GĐV Trần Ngọc Chinh (ký hiệu M2); 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Q, cán bộ Nguyễn Văn H5 và GĐV Trần Ngọc Chinh (ký hiệu M3); 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Q, cán bộ Nguyễn Văn H5 và GĐV Trần Ngọc Chinh (ký hiệu M4); 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Q, cán bộ Nguyễn Văn H5 và GĐV Trần Ngọc Chinh (ký hiệu M5); 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Huy H, cán bộ Nguyễn Văn H5 và GĐV Trần Ngọc Chinh (ký hiệu M6); 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Huy H, cán bộ Nguyễn Văn H5 và GĐV Trần Ngọc Chinh (ký hiệu M7); 01 hộp đựng điện thoại nhãn hiệu Oppo màu trắng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá theo Biên bản giao nhận vật chứng số 53 ngày 25/12/2018 giữa Đội Cảnh sát ĐTTP về ma túy – Công an quận Nam Từ Liêm với Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 điện theo di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus theo Biên bản giao nhận vật chứng số 53 ngày 25/12/2018 giữa Đội Cảnh sát ĐTTP về ma túy – Công an quận Nam Từ Liêm với Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm. Tịch thu sung quỹ nhà nước 710.000 đồng (bảy trăm mười nghìn đồng) số tiền tang vật thu giữ theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949 tại Kho bạc nhà nước Nam Từ Liêm ngày 25/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, mã ĐVQHNS 1048097.

Buộc bị cáo Nguyễn Huy H truy nộp sung quỹ nhà nước 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Thị Q truy nộp sung quỹ nhà nước 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Huy H và bị cáo Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ