- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HS-ST Ngày 20 - 3- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Phú
Bà Nguyễn Kim Phụng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu H; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1973 tại Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp 54, xã Lộc A, huyện N, tỉnh Bình Phước. Hộ khẩu thường trú: ấp 1, xã Hòa Hội, huyện Xuyên M, tỉnh VT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: Nguyễn Văn Ch (đã chết); Mẹ: Trần Thị G, sinh năm 1954; Bị cáo có 04 anh em, lớn nhất là sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/10/2018 đến ngày 20/11/2018 thì áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Người liên quan:
Lê Thị Kim Tr, sinh năm 1973
HKTT : ấp 54, xã Lộc A, huyện N, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: làm vườn
Có mặt tại phiên tòa
- 1 -
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 15/10/2018, Nguyễn Thị Thu H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future biển số: 93F1 – 159.11 đi từ nhà thuộc ấp 54, xã Lộc A đến xã Lộc T. Khi đến đoạn đường thuộc ấp 1, xã Lộc T, H mượn điện thoại của một người đàn ông không xác định được nhân thân, lai lịch để gọi điện thoại cho người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch mua 600.000 đồng ma túy để sử dụng, thì được người thanh niên đồng ý, khoảng 30 phút sau người thanh niên bỏ 01 gói giấy bạc bên trong có ma túy vào trong ly nhựa treo sẵn trên xe của H. Đến khoảng 14 giờ ngày 17/10/2018, H mang số ma túy mua được trước đó đồng thời điều khiển xe mô tô biển số: 93F1 – 159.11 vào khu vực chốt D4 thuộc ấp 8B, xã Lộc Hòa để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Công an xã Lộc H phối hợp với Đồn Biên phòng Lộc A kiểm tra bắt quả tang.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Nguyễn Thị Thu H đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 01 bao nylon màu trắng được hàn kín hai đầu chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future biển số: 93F1 – 159.11 (BL: 01 – 02).
Căn cứ kết luận giám định số: 344/2018/GĐKTHS ngày 19/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận:
Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,5413 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKSLN, ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề xuất xử phạt
- Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future biển số: 93F1 – 159.11 không liên quan đến vụ án đề nghị trả lại cho chị Lê Thị Kim Tr là chủ sở hữu hợp pháp;
Đối với 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa chất ma túy nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 2 -
Đối với người thanh niên bán ma túy và người tên H1 cho số điện thoại để Nguyễn Thị Thu H liên lạc, hiện cơ quan điều tra đang xác minh làm rõ. Khi nào làm việc được sẽ xử lý sau
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà xét xử công khai hôm nay, bị cáo đã hoàn toàn thú nhận hành vi phạm tội của mình gây ra, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 14 giờ ngày 17/10/2018, tại ấp 8B, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5413 gam ma túy (loại Methamphetamine) để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, xem thường pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn hành. Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác mà không lường trước được. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được pháp luật. Bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý nên bị cáo biết rõ tác hại nguy hiểm của ma túy và biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng vì coi thường pháp luật, vì ham muốn của bản thân nên bị cáo đã cố tình tàng trữ ma túy để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- 3 -
Hiện nay tình hình sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma tuý đã và đang xảy ra nhiều, có chiều hướng gia tăng cả về số lượng vụ án lẫn mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nghĩ cần trừng trị bị cáo nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử cần xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có đủ điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo tHnh người công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.
Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tang vật vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa chất ma túy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future biển số: 93F1 – 159.11 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô là tài sản của chị Lê Thị Kim Tr không liên quan đến vụ án nên trả lại cho chị Tr là phù hợp.
Đối với người thanh niên bán ma túy và người tên H1 cho số điện thoại để Nguyễn Thị Thu H liên lạc, hiện cơ quan điều tra đang xác minh làm rõ. Khi nào làm việc được sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1) Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt bị cáo: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 17/10/2018 đến ngày 20/11/2018.
2) Về tang vật vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa chất ma túy.
- 4 -
Trả lại cho chị Lê Thị Kim Tr 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future biển số: 93F1 – 159.11 số khung C5348DY011407, số máy JC54E- 1030485
Số tang vật trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bình Phước đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0006600 ngày 05/3/2019
Trả cho chị Lê Thị Kim Tr 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô (kèm theo hồ sơ vụ án)
3)Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST
Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKS huyện N - Bị cáo - Chi cục THADS huyện N - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước - CA huyện N - CA tỉnh Bình Phước - Lưu hồ sơ vụ án - 5 - | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Văn Hùng |