- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HS-ST Ngày 30 - 5 -2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quý
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Tuấn Bình
2. Ông Phan Văn Qúy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên toà: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại Hội trường UBND xã Cam An, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2019/TLST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST- HS ngày 15/5/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc H, sinh ngày 08/5/1995 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn TN, xã CC, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964 và bà Trần Thị D1, sinh năm 1966, trú tại: Thôn TN, xã CC, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị hại: Ông Trương Đức S (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1964 (vợ của ông S); anh Trương Đức T, sinh năm 1985; chị Trương Thị Kim A, sinh năm 1987; chị Trương Thị T1, sinh năm 1990 (đều là con đẻ của ông S); đều trú tại: Thôn TX 2, xã CT, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Anh T, chị A, chị T1 ủy quyền cho bà Lê Thị N tham gia tố tụng. Bà N có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn D2, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn TN, xã CC, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Hoàng Đức T2, (Vạy), sinh ngày 20/5/1985, địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn CL, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Lê Thanh H1, sinh ngày 31/10/1991, địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn CL, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 22/12/2018, Nguyễn Quốc H có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 đi theo hướng Cam Lộ - Đông Hà. Trên đường đi H điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ từ 70 – 80km/h, khi đi đến Km12 + 300 Quốc lộ 9 (là đoạn đường được chia thành hai chiều riêng biệt, ở giữa có dãy phân cách cứng và có đặt biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên bên phải và trái) thuộc địa phận thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, H phát hiện phía trước cách xe mô tô đang điều khiển khoảng 20 – 30m, có ông Trương Đức S đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 đi từ bên phải qua bên trái đường (theo hướng Cam Lộ - Đông Hà). Thấy vậy, Nguyễn Quốc H vẫn giữ nguyên tốc độ xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 đồng thời đánh tay lái lách sang trái theo hướng đi để tránh thì phần đầu phía trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 do H điều khiển va chạm với phần thân bên trái xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 do ông Trương Đức S điều khiển gây tai nạn. Hậu quả, ông Trương Đức S bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu đến ngày 25/01/2019 thì chết.
Tại bản Kết luận giám định số 180/KLGĐ – PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 với xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 trong vụ tai nạn giao thông là phần phía trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 gồm các vị trí: Dè chắn bùn, bánh trước, dĩa phanh, cụm đèn chiếu sáng va chạm với phần bên trái xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 gồm các vị trí: cánh mang, ốp nhựa thân xe, đầu máy, tay cầm lái.
Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 với xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 trên hiện trường là khu vực liền trước điểm đầu dấu vết đánh số 1, 2 (được mô tả trong hồ sơ khám nghiệm) thuộc phần đường có hướng lưu thông từ huyện Đakrong đến thành phố Đông Hà.
Xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 tác động vào xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 theo chiều hướng từ trái sang phải trong trạng thái xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 có hướng chuyển động sang trái.
Tại Bản kết luận giám định số 206/KLGĐ – PC09 ngày 15/02/2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Nguyên nhân chết của ông Trương Đức S là do đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 15/TgT ngày 28/01/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Quốc H do thương tích gây nên hiện tại là 32%.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm Hóa sinh ngày 23/12/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, xác định: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Nguyễn Quốc H là 27,02mmol/L. Căn cứ quy định tại Quyết định số 933/QĐ – BYT của Bộ y tế quy định về đo nồng độ cồn trong máu, thì nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Quốc H là 124,5mg/100ml.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm Hóa sinh ngày 23/12/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, xác định: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Trương Đức S là 41,3 mmol/L. Căn cứ quy định tại Quyết định số 933/QĐ – BYT của Bộ y tế quy định về đo nồng độ cồn trong máu, thì nồng độ cồn trong máu của Trương Đức S là 190,3mg/100ml.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL- ĐGTS ngày 09/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cam Lộ kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 bị thiệt hại: 4.950.000 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 bị thiệt hại: 1.900.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSCL ngày 02/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ truy tố Nguyễn Quốc H tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Quốc H từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi.
- Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Vật chứng vụ án đã trả lại cho chủ sở hữu; đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến gì về lời luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo với lý do: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi của mình; nhiều lần cùng gia đình đến thăm hỏi, động viên và bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại. Bị cáo là người tốt, hiền lành. Hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, bố đang bị đột quỵ phải mổ não tại bệnh viện; gia đình phải nuôi dưỡng bà nội già hơn 94 tuổi nằm liệt giường; bị cáo là lao động chính trong gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Từ lời khai của bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản giám định và các tài liệu chứng cứ khác có căn cứ để xác định:
Sau khi sử dụng rượu, bia, Nguyễn Quốc H có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 đi theo hướng Cam Lộ - Đông Hà. Khi đến K12 + 300 Quốc lộ 9 thuộc địa phận thị trấn Cam Lộ, đoạn đường này được chia thành hai chiều riêng biệt, ở giữa có dãy phân cách cứng và có đặt biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên bên phải và trái, H phát hiện phía trước cách xe của H khoảng 20 – 30m, có ông Trương Đức S đang điều khiển xe mô tô đi từ bên phải qua bên trái đường. Thấy vậy, H vẫn giữ nguyên tốc độ đồng thời đánh tay lái lách sang trái theo hướng đi của mình nhưng không kịp, dẫn đến va chạm với phần thân bên trái xe mô tô của ông Trương Đức S gây tai nạn làm ông S chết. Tại bản Kết luận giám định số 180/KLGĐ – PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 với xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 trong vụ tai nạn giao thông là phần phía trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 gồm các vị trí: Dè chắn bùn, bánh trước, dĩa phanh, cụm đèn chiếu sáng va chạm với phần bên trái xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 gồm các vị trí: cánh mang, ốp nhựa thân xe, đầu máy, tay cầm lái.
Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 với xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 trên hiện trường là khu vực liền trước điểm đầu dấu vết đánh số 1, 2 (được mô tả trong hồ sơ khám nghiệm) thuộc phần đường có hướng lưu thông từ huyện Đakrong đến thành phố Đông Hà.
Xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 041.21 tác động vào xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 theo chiều hướng từ trái sang phải trong trạng thái xe mô tô biển kiểm soát 51V3 – 6129 có hướng chuyển động sang trái.
Tại Bản kết luận giám định số 206/KLGĐ – PC09 ngày 15/02/2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Nguyên nhân chết của ông Trương Đức S là do đa chấn thương.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm Hóa sinh ngày 23/12/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, xác định: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Nguyễn Quốc H là 27,02mmol/L. Căn cứ quy định tại Quyết định số 933/QĐ – BYT của Bộ y tế quy định về đo nồng độ cồn trong máu, thì nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Quốc H là 124,5mg/100ml.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT – BGTVT của Bộ giao thông vận tải: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau: 1. Có biển cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường...” và quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “...Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở”.
Từ những quy định trên, có căn cứ xác định hành vi của bị cáo điều khiển xe mô tô đến đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, nhưng bị cáo không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn; tham gia giao thông có nồng độ cồn vượt mức cho phép gây tai nạn làm chết 01 người, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Luật giao thông đường bộ năm 2008 và có đủ cơ sở cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự: “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu... có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...”. Điều luật có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, nhất là trong thời điểm hiện nay tình trạng sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông có chiều hướng gia tăng, đã gây ra nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng làm chết nhiều người; nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp để hạn chế tai nạn giao thông nhưng vẫn không thuyên giảm, một trong những nguyên nhân là do ý thức và trách nhiệm của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông. Do đó, cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong vụ án này, bị hại ông Trương Đức S cũng có một phần lỗi, ông S điều khiển xe mô tô chuyển hướng đi từ phía bên phải sang trái trên phần đường bên phải Quốc lộ 9 (hướng Đakrong đi Đông Hà) không đảm bảo an toàn, không có tín hiệu báo hướng rẽ, vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ. Còn hành vi vi phạm do sử dụng rượu, bia có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định của ông Trương Đức S chỉ là hành vi vi phạm hành chính.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo; bị hại cũng có một phần lỗi; bị cáo có nhiều thành tích trong phong trào thể dục thể thao trong quá trình tham gia quân ngũ cũng như tại địa phương, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, cho nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Quốc H đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 72.500.000 đồng; đại diện hợp pháp của gia đình bị hại bà Lê Thị N không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Qúa trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ, sau đó trả lại cho chủ sở hữu: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát 74G1 – 041.21; 01 xe mô tô nhãn hiệu Vemvipi, màu đỏ đen, biển kiểm soát 51V3 – 6129; 01 bộ hồ sơ thi giấy phép lái xe hạng A1 của Nguyễn Quốc H; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trương Đức S; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 51V – 6129. Hội đồng xét xử xét thấy các tài sản này là vật chứng của vụ án nhưng không thuộc các trường hợp phải tịch thu nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H: 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/5/2019).
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã CC, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - CA huyện Cam Lộ; - Chi cục THADS huyện Cam Lộ; - VKSND huyện Cam Lộ; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - Dán án; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |