- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Th đối với chị Nguyễn Thị O về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 12/2019/HNGĐ-ST Ngày 18-3-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.
2. Ông Nguyễn Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1094/2018/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2019 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Th, sinh năm 1975; Thƣờng trú: Tổ 12, khu phố P, phƣờng M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1982; Thƣờng trú: Tổ 12, khu phố P, phƣờng M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Tạm trú: Số 104B/3C, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
Anh Lê Văn Th, chị Nguyễn Thị O có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn Th và chị Nguyễn Thị O tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T (nay là phƣờng M, thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 155 ngày 30/9/2016. Từ khi kết hôn đến khi chị O mang thai bốn tháng, vợ chồng bắt đầu có bất đồng ý kiến và không còn hạnh phúc nữa. Anh Th ra ngoài kiếm tiền lo cho gia đình nhƣng chị O không hiểu cho anh Th nên dẫn đến nhiều lần cãi nhau, đánh nhau. Khoảng cuối năm 2017 hai vợ chồng ly thân, chị O cùng con nhỏ đi khỏi nhà đến thị xã D sinh sống. Nay anh Lê Văn Th xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thị O.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Lê Văn Hoàng A, sinh ngày 25/6/2017, hiện nay con đang sống chung với chị Nguyễn Thị O. Sau khi ly hôn, anh Lê Văn Th yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Lê Văn Hoàng A và yêu cầu chị Nguyễn Thị O cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Th làm kinh doanh tự do, thu nhập bình quân 12.000.000 đồng/tháng, có nhà ở, có phòng trọ cho thuê, đủ điều kiện nuôi con. Trong thời gian chị O sống tại D, do chị O giấu địa chỉ nên anh Th không biết nhà vì vậy không thể đến thăm con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai và biên bản làm việc, bị đơn chị Nguyễn Thị O trình bày: Chị O thống nhất với phần trình bày của anh Th về thời gian và nơi đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đƣơc 01 thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Th thƣờng xuyên uống rƣợu say rồi về kiếm chuyện đánh đập chị O, ngoài ra có lần anh Th yêu cầu chị O bán căn nhà thuộc sở hữu của chị ở D để cùng về thị xã P sinh sống và làm ăn, tuy nhiên với tính cách của anh Th, chị O không đủ niềm tin, do đó không đồng ý, vợ chồng càng thêm căng thẳng. Khi chị O mang bầu đƣợc 04 tháng, chị về nhà ở D sinh sống, trong thời gian này, anh Th có qua lại thăm nom, đến ngày sinh con anh lên đón chị về lại nhà tại P. Đến tháng 8/2017, sau khi sinh con đƣợc 02 tháng vì không thể sống cùng anh Th đƣợc nữa nên chị đã cùng con nhỏ lên thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để sống tại căn nhà của chị. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay chị Nguyễn Thị O xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh Lê Văn Th.
Về con chung: Thống nhất với phần trình bày của anh Lê Văn Th, vợ chồng có 01 con chung tên Lê Văn Hoàng A, sinh ngày 25/6/2017. Khi ly hôn chị O không đồng ý giao con cho anh Th nuôi dƣỡng mà yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dƣỡng nuôi con. Trong suốt thời gian chị O cùng con đi khỏi nhà, anh Th chỉ vài lần điện thoại hỏi thăm con, mặc dù biết nhà mẹ con chị đang ở tại D nhƣng anh Th không đến thăm con lần nào, và cũng không gửi tiền chu cấp nuôi con. Chị làm môi giới bất động sản nên thu nhập tƣơng đối ổn định, khoảng 10.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi con và có nhiều thời gian chăm sóc con. Hiện nay, chị có cho con đi học tại nhà giữ trẻ trong thời gian chị đi làm để con đƣợc chăm sóc và dạy dỗ. Bản thân chị tự nhận có đủ điều kiện cho con cuộc sống vật chất đầy đủ, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 21/02/2019, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, con chung, mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình chung sống giữa anh Lê Văn Th và chị Nguyễn Thị O tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Mâu thuẫn vợ chồng anh chị địa phƣơng không biết rõ do anh chị không yêu cầu địa phƣơng hòa giải khi có mâu thuẫn xảy ra. Hiện nay chị O cùng con không sống tại địa phƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án: nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
+ Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Th về việc ly hôn với chị Nguyễn Thị O.
Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82, 83 đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cháu Lê Văn Hoàng A, sinh ngày 25/6/2017 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dƣỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị O không yêu cầu anh Lê Văn Th cấp dƣỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn Th và chị Nguyễn Thị O tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T (nay là phƣờng M, thị xã P), tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 155 ngày 30/9/2016 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Anh Lê Văn Th cho rằng từ khi chị O mang thai đƣợc bốn tháng, vợ chồng bắt đầu có bất đồng ý kiến và không còn hạnh phúc nữa. Khoảng cuối năm 2017 hai vợ chồng ly thân, chị O cùng con nhỏ đi khỏi nhà đến thị xã D sinh sống. Hiện nay, anh chị không còn tình cảm với nhau. Chị O thừa nhận khi chị mang thai đƣợc bốn tháng, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn cãi nhau dẫn đến chị phải về nhà ở D sinh sống, khi sinh con mới trở về P. Tháng 8/2017, sau khi sinh con đƣợc 02 tháng vì không thể sống cùng anh Th đƣợc nữa nên chị đã cùng con nhỏ về nhà tại thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ thời điểm đó, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn.
Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Văn Th và chị Nguyễn Thị O theo thừa nhận của hai bên thì mâu thuẫn đã phát sinh từ lâu, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, anh chị đã không còn sống chung từ cuối năm 2017, không còn quan tâm chăm sóc nhau cho đến nay. Bản thân anh chị cũng không muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lê Văn Th và chị Nguyễn Thị O đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục đƣợc. Vì vậy, xét thấy không thể kéo dài cuộc sống chung nên yêu cầu ly hôn của anh Lê Văn Th là có cơ sở phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Văn Hoàng A, sinh ngày 25/6/2017. Hiện nay con đang sống cùng chị Nguyễn Thị O. Sau khi ly hôn, anh Lê Văn Th và chị Nguyễn Thị O đều có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi con chung.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Anh Lê Văn Th yêu cầu chị Nguyễn Thị O cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu anh Lê Văn Th cấp dƣỡng nuôi con.
Khi giải quyết ly hôn, việc giao con cho cha hay mẹ nuôi thì phải đảm bảo đƣợc sự phát triển toàn diện về mọi mặt cho đứa trẻ. Anh Th làm kinh doanh tự do và có phòng trọ cho thuê, thu nhập hàng tháng 12.000.000 đồng, chị O làm môi giới bất động sản, thu nhập 10.000.000 đồng/tháng. Nhƣ vậy, anh chị đều có đủ điều kiện vật chất để chăm lo cho con. Theo nhƣ thừa nhận của anh chị, trong thời gian chị O cùng con sống tại thị xã D, anh Th không đến thăm con. Anh Th cho rằng anh chỉ biết chị O đang sống tại thị xã D, vì chị O giấu địa chỉ không cho anh biết chỗ ở cụ thể nên anh không thể đến thăm con. Tuy nhiên, chị O trình bày, ngôi nhà chị ở tại thị xã D là nhà của chị mua từ trƣớc và trƣớc đây trong thời gian chị mang thai về đây sống anh Th cũng có lên xuống thăm nom nhiều lần. Mặc dù anh Th biết địa chỉ nhà nhƣng anh không đến thăm và chu cấp tiền nuôi con. Bên cạnh đó, cháu Lê Văn Hoàng A chƣa đủ 36 tháng tuổi, còn rất nhỏ nên cần sự chăm sóc trực tiếp của ngƣời mẹ, thực tế cháu cũng đang sống cùng mẹ, đƣợc cho đi học và nhận đƣợc sự nuôi dƣỡng của mẹ. Từ những nhận định trên, căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con…”, có cơ sở chấp nhận nguyện vọng của chị Nguyễn Thị O về việc đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung cháu Lê Văn Hoàng A. Ghi nhận sự tự nguyện của chị O về việc không yêu cầu anh Th cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Văn Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Th đối với chị Nguyễn Thị O về việc ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn Th đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thị O.
- Về con chung: Buộc anh Lê Văn Th giao con chung tên Lê Văn Hoàng A, sinh ngày 25/6/2017 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị O không yêu cầu anh Lê Văn Th cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, anh Lê Văn Th và chị Nguyễn Thị O đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Lê Văn Th lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Nguyễn Thị O nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Anh Lê Văn Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003821, ngày 17/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Anh Lê Văn Th đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - UBND phƣờng M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Đƣơng sự; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Mỹ Dung |