- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HNGĐ-ST Ngày: 22-3-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Ẩn
2/ Bà Võ Ngọc Ba
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thiện Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 458/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trƣơng Thị Hồng Nh, sinh năm 1984. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Phƣơng Q, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: ấp Ph, xã T, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người làm chứng: Ông Trần Hoàng V, sinh năm 1952. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp Ph, xã T, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 23/10/2018, nguyên đơn chị Trương Thị Hồng Nh trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Phương Q xây dựng hôn nhânvào năm 2006, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 03/8/2006. Thời gian chung sống được gần 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng do cuộc sống không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, anh Q bỏ chị đi không lo làm ăn, vợ chồng sống không có hạnh phúc và đã ly thân từ tháng 8/2017 đến nay mà không hàn gắn được, không thể nào tiếp tục đoàn tụ chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Q.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Hữu Sang, sinh ngày 01/4/2008 hiện đang sống chung với anh Q. Chị xin được nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bổ sung ngày 20/12/2018, chị Trương Thị Hồng Nh trình bày: Về con chung theo nguyên vọng của con nên chị đồng ý để con chung cho anh Q được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 26/02/2019, người làm chứng ông Trần Hoàng V trình bày: Ông là cha ruột của anh Q, giữa anh Q và chị Nh thành hôn có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi thành hôn thì vợ chồng anh Q đi làm ăn ở Bình Dương, thời gian đầu vợ chồng anh Q sống có hạnh phúc, khoảng 03 năm nay thì vợ chồng anh Q phát sinh mâu thuẫn, nhiều lần chị Nh gởi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, sau đó rút lại đơn, tính từ đó đến nay khoảng 06 lần vợ chồng anh Q cự cải rồi chị Nh bỏ đi, lần gần đây nhất là chị Nh đuổi anh Q ra khỏi nhà trọ không cho sống chung và vợ chồng anh Q đã ly thân từ tháng 8/2017 đến nay. Về con chung có 01 con chung tên Trần Hữu S, sinh ngày 01/4/2008 hiện đang sống chung với anh Q và gia đình ông, anh Q đi làm ăn gởi tiền về để nuôi con, điều kiện anh Q nuôi con vẫn đảm bảo, cháu S được học hành ổn định. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng anh Q thì ông không biết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt (có đơn xin vắng mặt), bị đơn vắng mặt (không lý do), người làm chứng vắng mặt (có ý kiến xin vắng mặt).
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thể hiện trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hoàn toàn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có ý kiến về nội dung mà nguyên đơn khởi kiện, không tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người làm chứng có ý kiến trình bày xin vắng mặt tại phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Hồng Nh, xử cho chị Nh ly hôn với anh Trần Phương Q. Về con chung: Giao cháu Trần Hữu S, sinh ngày 01/4/2008 cho anh Trần Phương Q tiếp tục nuôi dưỡng, chị Trương Thị Hồng Nh không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị Hồng Nh phải nộp 300.000đ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Trương Thị Hồng Nh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn với anh Trần Phương Q cư trú tại ấp Ph, xã T, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn chị Trương Thị Hồng Nh có đơn xin vắng mặt ngày 20/12/2018, bị đơn anh Trần Phương Q được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ 2 không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Người làm chứng ông Trần Hoàng V vắng mặt tại phiên tòa nhưng ông V đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Chị Trương Thị Hồng Nh và anh Trần Phương Q thành hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 39 vào ngày 05/6/2006 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị Nh và anh Q là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu anh chị sống có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, sống không hợp nhau, thường cải vả, bất đồng ý kiến và hai người tự cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 8/2017 đến và sau khi Tòa án thụ lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để Toà án hoà giải giúp đở đoàn tụ nhưng anh Q vẫn vắng mặt không lý do và tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Trần Hoàng V là cha ruột của anh Q cũng xác định giữa anh Q và chị Nh thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị Nh và anh Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị Nh là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét thấy con chung Trần Hữu S, sinh ngày 01/4/2008 hiện đang sống trực tiếp với anh Q, cuộc sống cũng đảm bảo, và cháu S cũng có nguyên vọng sống chung với anh Q. Chị Nh đồng ý giao con cho anh Q tiếp tục nuôi dưỡng và chị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Q không có ý kiến về việc có yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con hay không. Nên Hội đồng xét xử xét giao con chung cho anh Q tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị Hồng Nh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị Hồng Nh phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trương Thị Hồng Nh. Xử cho chị Nh ly hôn với anh Trần Phương Q.
2. Về con chung:
Giao con chung tên Trần Hữu S, sinh ngày 01/4/2008 cho anh Trần Phương Q tiếp tục nuôi dưỡng, chị Trương Thị Hồng Nh không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
Chị Trương Thị Hồng Nh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Trương Thị Hồng Nh nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Nh đã nộp theo biên lai thu số 0014977 ngày 19/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tr. Chị Nh đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nôi nhaän: - TAND tænh Vĩnh Long; - VKSND huyeän Tr; - THADS huyeän Tr; - UBND xã T, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long (Giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 05/6/2006); - Caùc ñöông söï; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy An |