vanban.org

Bản án 12/2019/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chap hon nhan giua Phanh Thanh T - Le Trung H"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22/4/2019
V/v tranh chấp “xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khanh

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thảo

Ông Nguyễn Chí Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước không tham gia

phiên tòa.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân

Phước mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số

266/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp "xin ly hôn”,

theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm

2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/QĐ-HPT ngày 28/3/2019, giữa

các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thanh T (L), sinh năm 1979.

Địa chỉ: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh T.

2. Bị đơn: Anh Lê Trung H, sinh năm 1969.

Địa chỉ: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh T.

- Chị T có mặt tại phiên tòa.

- Anh H vắng mặt không lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 21/12/2018 nguyên đơn chị

Phan Thanh T trình bày: Tôi và anh Lê Trung H có quen biết tìm hiểu trước và

chung sống với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã

T, huyện T vào ngày 29/01/2008 và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Chúng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, thường

xuyên cự cãi nhau. Nguyên nhân do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ

nữ khác nên thường xuyên kiếm chuyện gây cãi với vợ con, không chăm lo

chăm sóc gia đình và tự bỏ nhà ra đi cho đến nay không về. Chúng tôi chính thức ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Thời gian ly thân nhau vợ chồng cũng không có một động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; Về con chung: Có hai con chung là Lê Thanh T1, sinh ngày 01/12/2003 và Lê Minh Q, sinh ngày 29/12/2007, hiện hai con đang sống với tôi; Về tài sản chung: Có một số tài sản chung, nhưng tôi không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lê Trung

H; Về con chung: Yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là Lê Thanh T1 và Lê Minh Q. Không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Lê Trung H đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi

kiện của chị T và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị Phan Thanh T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Trung H; Về con

chung: Yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là Lê Thanh T1 và Lê Minh Q. Không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung: không có.

- Anh H vắng mặt không lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Hội đồng xét thấy theo đơn khởi kiện và yêu cầu của chị

Phan Thanh T tại phiên tòa, thì chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Phước giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Trung H. Anh H hiện cư trú tại ấp M, xã T, huyện T, tỉnh T. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước theo qui định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp "Ly hôn" qui định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh Lê Trung H không có yêu cầu phản tố, không có người đại diện tham gia phiên tòa và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để xét xử nhưng anh H vẫn vắng mặt hai lần không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Lê Trung H.

Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay chị Phan Thanh T yêu

cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Trung H. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thanh T, Hội đồng xét xử xét thấy chị T và anh H có quen biết tìm hiểu trước và cưới nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chị T xác định do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên thường xuyên kiếm chuyện gây cãi với vợ con, không chăm lo chăm sóc gia đình và tự bỏ nhà ra đi cho đến nay không về. Vợ chồng chính

thức ly thân từ năm 2012 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không hàn

gắn được gì. Hội đồng xét xử xét thấy thực tế thời gian ly thân của chị T và anh

H từ năm 2012 đến nay là đã lâu, trong thời gian ly thân nhau, chị T và anh H

cũng không có một động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa

chị T cương quyết được xin ly hôn đối với anh H vì tình cảm vợ chồng không

còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn anh Lê Trung H đã được Tòa

án thông báo về yêu cầu khởi kiện của chị T và cũng được Tòa án triệu tập hợp

lệ hai lần để hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có

văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án. Như vậy chứng tỏ anh H đã

không còn tình cảm đối với chị T. Tại tờ tự khai của chị Phan Cẩm H và Phan

Thu Th là em ruột của chị T thì những người này đều xác định anh H có quan

hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng mâu thuẫn và anh H tự bỏ nhà

ra đi, để lại cho chị T nuôi hai con nhỏ cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử

xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H là đã trầm trọng, không còn

khả năng hàn gắn đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 56 của Luật hôn

nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Phan Thanh T được ly hôn anh Lê Trung H

là phù hợp.

Về con chung: Chị T và anh H có hai con chung là Lê Thanh T1,

sinh ngày 01/12/2003 và Lê Minh Q, sinh ngày 29/12/2007, hiện đang sống với

chị T. Tại phiên tòa hôm nay chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu

cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân

nhau cho đến nay, cháu T và cháu Q hiện đang sống với chị T ổn định. Chị T

cũng có điều kiện để nuôi dạy con tốt. Từ khi ly thân nhau cho đến nay anh H

không có thường đến thăm con chung, hay chăm sóc gì cho con cùng với chị T.

Anh H cũng không có yêu cầu nuôi con chung. Lời khai của cháu T1 và cháu Q

yêu cầu được sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao

cho chị T nuôi con chung giữa chị và anh H là cháu Lê Thanh T1 và Lê Minh Q

là phù hợp, đảm bảo cuộc sống cho các cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T cũng không yêu cầu anh H phải cấp

dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị T xác định không tranh chấp, không yêu cầu

Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không

đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định

tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

- Chấp nhận cho chị Phan Thanh T được ly hôn với anh Lê Trung H.

2. Về con chung:

- Giao cho chị Phan Thanh T được tiếp tục nuôi hai con chung giữa chị

và anh Lê Trung H là cháu Lê Thanh T1, sinh ngày 01/12/2003 và Lê Minh Q, sinh ngày 29/12/2007. Anh Lê Trung H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phan Thanh T chưa có yêu cầu.

Anh Lê Trung H có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con

chung không ai được quyền tranh cản.

3. Về án phí:

Chị Phan Thanh T phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm,

được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 19621 ngày 21/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như chị T thi hành xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị T được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án sơ thẩm; anh H được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự

thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ