- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị Mộng Cầm ly hôn ông Nguyễn Văn Được"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mộng Cầm đối với ông Nguyễn Văn Được về việc “ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26-4-2019 V/v “ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vụ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Châu Hoàng.
2. Ông Phạm Văn Luốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Huệ.
Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mộng C - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: ấp 4, xã Mỹ Quý T, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: ấp 1, xã Mỹ Thạnh B, huyện C, tỉnh Long An.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện Tòa án nhận đề ngày 30/01/2019 các văn bản tiếp theo bà Trần Thị Mộng C trình bày và yêu cầu: Bà và ông Nguyễn Văn Đ cưới nhau ngày 19/3/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc ngày 16/5/2018. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến tháng 01 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Bà và ông Đ đã ly thân từ ngày 03 tháng 7 năm 2018 cho đến nay.
- Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
- Về nuôi con chung: Bà và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Trần Quốc Danh, sinh ngày 13/3/2018 (hiện đang sống với bà C). Khi ly hôn bà C yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Trần Thị Mộng C khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn Đ, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà C và ông Đ chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An ngày 16/5/2018. Quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Bà Trần Thị Mộng C có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà C theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng ông Đ không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà C theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, ông Đ không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ và tham gia phiên tòa vì ông không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.
Ông Đ đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó, xét nội dung vụ án theo trình bày của bà C.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Mộng C: Bà C không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh cho trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Xét bà C và ông Đ phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, bà C và ông Đ ly thân tháng 7/2018 đến nay và hiện nay vẫn đang sống ly thân, tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà C và ông Đ đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của bà Cầm là có căn cứ, phù hợp quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về nuôi con chung: Xét bà C và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Trần Quốc Danh, sinh ngày 13/3/2018 (hiện đang sống với bà C). Khi ly hôn bà C yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 107 và 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Xét về tài sản chung và nợ chung: Bà C trình bày không có, không yêu cầu không đề cập giải quyết. Nếu sau này xảy ra tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác là phù hợp.
Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn được khấu trừ 300.000 tiền tạm ứng án phí đã nộp, bà Hồng đã nộp đủ án phí. Ông Đ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mộng Cầm đối với ông Nguyễn Văn Được về việc “ly hôn”.
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Mộng C được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Mộng C được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Trần Quốc Danh, sinh ngày 13/3/2018 (hiện đang sống với bà Cầm), ông Nguyễn Văn Được không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Văn Đ được quyền tới lui, thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết, vì quyền và lợi ích của con chung, bà C và ông Đ được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu, không đề cập giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí:
Bà Trần Thị Mộng C chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (biên lai thu số 0004413 ngày 14/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ), bà C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - Chi cục THADS huyện Đức Huệ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | Nguyễn Thị Vụ |