- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 giữa nguyên đơn chị Đỗ Thị H và bị đơn anh Ngô Văn Th"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26-4-2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân và ông Trần Lộc.
- Thư ký phiên tòa:Bà Hồ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa:Ông Đặng Hồng Phong - Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2019/QĐXX-ST ngày 02 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Xóm HT, xã DB, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn Th, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: Xóm 2, xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/9/2018, các lời khai tại tòa án, và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày: Chị đăng ký kết hôn với anh Ngô Văn Th vào ngày 24/9/2007 tại Ủy ban nhân dân xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An. Chị kết hôn với anh Th có tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau ngày cưới vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian, thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do xung đột gay gắt về quan điểm, tính tình, anh Th thường xuyên rượu chè và mỗi lần uống say anh lại đánh đập chị. Mặc dù, gia đình nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng anh Th không thay đổi. Chị và anh Th đã chấm dứt cuộc sống chung được hơn một năm. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không khắc phục được mâu thuẫn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn Th.
Con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung Ngô Văn H, sinh ngày 12/12/2007, Ngô Gia Ph, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Thế Kh, sinh ngày 25/10/2014. Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung Ngô Văn H sống cùng anh Th, chị trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Ngô Gia Ph và Ngô Thế Kh. Nguyện vọng của chị tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Gia Ph và Thế Kh.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai bị đơn anh Ngô Văn Th trình bày: Thống nhất với chị Đỗ Thị H về thời gian và điều kiện đăng ký kết hôn. Anh kết hôn với chị H có tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Theo anh, trong quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, chị H bỏ nhà đi không có lý do, anh vẫn còn tình cảm với chị H nên đề nghị tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.
Con chung: Anh trình bày thống nhất với chị H về tên tuổi của các con chung. Nguyện vọng của anh tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng Ngô Văn H.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng việc tuân theo pháp luật từ thụ lý, thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án, tống đạt văn bản cho Viện kiểm sát và đương sự của thẩm phán là hoàn toàn đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký tuân theo quy định của pháp luật trong quá trình xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp...Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn với anh Th. Giao các con chung Ngô Gia Ph, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Thế Kh, sinh ngày 25/10/2014 cho chị H; giao con chung Ngô Văn H, sinh ngày 12/12/2007 cho anh Th; trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Th; chị H, anh Th có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Tài sản chung không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa,ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Ngô Văn Th cư trú tại xóm 2, xã DT, huyện D, theo quy định tại khoản 1 điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Thủ tục xét xử vắng mặt: Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Xét nguyên đơn chị Đỗ Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Ngô Văn Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm 2, xã DTh, huyện D, tỉnh Nghệ An. Anh Th đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp...Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Anh Th biết Tòa án thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị H và anh, nhưng cố tình trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, tại phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 18/4/2018 vắng mặt không có lý do, phiên tòa lần thứ hai tiếp tục vắng mặt. Áp dụng khoản 2 điều 227, khoản 1, 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Th.
Về nội dung:
- Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đỗ Thị H và anh Ngô Văn Th là hôn nhân hợp pháp (Trích lục kết hôn số 67/TLKH-BS, ngày 02/8/2018). Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th. Anh Th đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Anh Th được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, như vậy anh Th đã từ bỏ quyền được trình bày và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Điều đó cũng cho thấy anh Th không có thiện chí trong việc khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý thức chấp hành pháp luật.Tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, Phụ nữ xã DT cung cấp thông tin vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, anh Th hay uống rượu, đánh đập chị H. Chị H, anh Th xác định vợ chồng không còn sống chung. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh Th đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 điều 92, khoản 4 điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Th.
- Về con chung: Vợ chồng chị H, anh Th có 03 con chung, Ngô Văn H, sinh ngày 12/12/2007, Ngô Gia Ph, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Thế Kh, sinh ngày 25/10/2014. Anh Th đang trực tiếp nuôi dưỡng Văn H, chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng Gia Ph và Thế Kh. Chị H, anh Th đều có công việc, có thu nhập, đảm bảo cho con chung được chăm nom, giáo dục, phát triển. Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của các bên là chính đáng và để không làm xáo trộn môi trường sống của các con. Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 80, 81, 83 luật Hôn nhân và gia đình giao con chung Văn H cho anh Th, giao các con chung Gia Ph, Thế Kh cho chị H; được trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Th. Chị H, anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Tài sản chung: Không xem xét.
Án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 điều 28, 35, 39, khoản 2 điều 92, khoản 4 điều 91, khoản 2 điều 227, khoản 1, 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Th.
2. Con chung: Giao con chung Ngô Văn H, sinh ngày 12/12/2007 cho anh Ngô Văn Th; giao các con chung Ngô Gia Ph, sinh ngày 05/02/2012 và Ngô Thế Kh, sinh ngày 25/10/2014 cho chị Đỗ Thị H; trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Ngô Văn Th. Chị H, anh Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Tài sản chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Buộc chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Án phí của chị H được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000853 ngày 12/02/2019.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện D; - CCTHADS huyện D; - UBND xã DT; - Đương sự; - Lưu HS, VP. | (Đã ký) Lê Thị Hải Yến |