vanban.org

Bản án 12/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

VKS nd huyện Thới Bình;

Chi cục THA dân sự huyện Thới Bình; Phòng KTNV&THA TA nd tỉnh Cà Mau; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông N yêu cầu vợ chồng ông T thanh toán nợ"
  • Tòa quyết gì? VKS nd huyện Thới Bình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/DS-ST
Ngày: 02-5-2019
V/v tranh chấp tiền vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Công Dịnh 2. Ông Hoàng Văn Vương

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình Trong ngày 02 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2019, về tranh chấp tiền vay Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Trương Văn N, sinh năm 1954 (có mặt) Địa chỉ: Ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T (vắng mặt) 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị U (vợ ông T, vắng mặt) Cùng địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Th, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là ông Trương Văn N trình bày: Vào năm 2001, ông Nguyễn Ngọc T có hỏi vay của ông N nhiều lần với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Sau khi vay, phía ông T không đóng lãi và vốn. Ông N đòi nhiều lần nhưng ông T chỉ hứa hẹn mà không thực hiện. Đến khoảng tháng 3/2017, ông N đến nhà và gặp vợ chồng ông T. Vợ chồng ông T hứa thanh toán vốn và lãi cho ông N với tổng số tiền là 10.000.000 đồng vào tháng 8 năm 2018. Đến hẹn, vợ chồng ông T vẫn không thực hiện. Nay ông N yêu cầu vợ chồng ông T thanh toán 10 triệu đồng như đã cam kết. Tại phiên tòa hôm nay: Ông N xác định thời điểm vợ chồng ông T cam kết hứa trả là vào tháng 8 năm 2017.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông T cùng vợ là bà U (gọi chung là vợ chồng ông T) được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt vợ chồng ông T. [2] Tuy vợ chồng ông T không có ý kiến, nhưng qua chứng cứ do phía ông N cung cấp, thể hiện vào khoảng tháng 3 năm 2017, ông T có lập tờ cam kết trả cho ông N 10 triệu đồng là thực tế xảy ra. [3] Đến hẹn theo cam kết (tháng 8 năm 2017), vợ chồng ông T không thực hiện thanh toán số tiền nói trên cho ông N là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Vì vậy, ông N khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông T thực hiện nghĩa vụ là có cơ sở, cần buộc vợ chồng ông T có nghĩa vụ thanh toán cho ông N 10 triệu đồng. Trường hợp chậm thanh toán, vợ chồng ông T còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định. [4] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên vợ chồng ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%. [5] Phần ông N nộp tạm ứng án phí được nhận lại. [6] Tại phiên tòa: Ông N có mặt, nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án.Vợ chồng ông T vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 1. Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Ngọc T và bà Phan Thị U. 2. Buộc ông Nguyễn Ngọc T và vợ là bà Phan Thị U có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trương Văn N 10.000.000 (mười triệu) đồng. 3. Kể từ ngày ông N có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp vợ chồng ông T không chịu thanh toán khoản tiền nói trên cho ông N, thì hàng tháng, vợ chồng ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. 4. Ông T và bà U phải chịu 500.000 (năm trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%. 5. Trả lại cho ông N 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005996 ngày 04/3/2019 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành. 6. Ông N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T và bà U được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. 7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ