vanban.org

Bản án 12/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á.

Buộc bà Xuân Thị Q, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn Xuân Th, xã Đông C, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình phải trả Ngân hàng Đông Á tổng số tiền 7.169.603 đồng (Bẩy triệu một trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm linh ba đồng); trong đó nợ gốc là 5.281.538 đồng; lãi trong hạn 138.462 đồng; lãi quá hạn (tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Đông Á khởi kiện bà Xuân Thị Quyên và ông Đỗ Văn Thiêm"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2019/DS- ST
Ngày 12/11/2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín
dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lê Kiên Trung.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Nguyễn Thị Là.

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Giang- Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2019/TLST- DS ngày 14/6/2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2019/QĐST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2019; giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn: Ngân hàng TMCP Đông Á;

Địa chỉ trụ sở: Số 130, Phan Đăng L, Phường 3, quận Phú Nh, thành phố Hồ Chí M.

Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đông Á.

Đại diện theo ủy quyền thứ nhất: Ông Nguyễn Thanh T – Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á.

(Văn"bản"ủy"quyền"số"122/QĐ-DAB-HĐQT"ngày"27"tháng"4"năm"2016"của" ông"Võ"Minh"T"cho"ông"Nguyễn"Thanh"T)

Đại diện theo ủy quyền thứ hai: Ông Trần Văn Gi - Giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á, chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch huyện Đông H.

(Văn"bản"ủy"quyền"số"636/QĐ-DAB-PC"ngày"22"tháng"5"năm"2018"của"ông" Nguyễn"Thanh"T"cho"ông"Trần"Văn"Gi)

Đại diện theo ủy quyền thứ ba: Bà Trần Thị Thanh Th- Nhân viên KHCN Phòng giao dịch Đông H.

(Văn"bản"ủy"quyền"số"02/QĐ-DAB-DHG1"ngày" 14"tháng"3"năm"2019"của" ông"Trần"Văn"Gi"cho"bà"Trần"Thị"Thanh"Th)

2."Bị"đơn: Bà Xuân Thị Q , sinh năm 1975;

Địa chỉ: Thôn Xuân Th, xã Đông C, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình.

"3."Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

Ông Đỗ Văn Th, sinh năm 1972 (Là chồng bà Q).

Địa chỉ: Thôn Xuân Th, xã Đông C, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình.

""""""(Bà"Trần"Thị"Thanh"Th"xin"vắng"mặt."Bà"Q"và"ông"Th"vắng"mặt"không"có"lý" do)"

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á trình bày:

Ngày 13/5/2016, Ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch Đông H, cho bà Xuân Thị Q vay số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng); thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 13/5/2016 đến ngày 13/5/2017) với lãi suất 9%/năm (lãi suất trên dư nợ ban đầu) theo hình thức trả góp; gốc và lãi chia đều trả hàng tháng là 1.820.000 đồng, tháng cuối trả 1.780.000 đồng (theo bảng dự tính RULE 78). Việc vay vốn dưới hình thức tín chấp thông qua Hội phụ nữ xã Đông C và ông Đỗ Văn Th là chồng bà Q ký là người bảo lãnh khoản vay. Theo thỏa thuận liên kết giữa Ngân hàng và Hội phụ nữ xã Đông C và UBND xã Đông C thì hàng tháng Hội phụ nữ xã Đông C đứng ra thu tiền của các hội viên Hội phụ nữ xã (trong đó có bà Q) cho Ngân hàng. Sau khi bà Q làm thủ tục vay vốn, ký giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ, Ngân hàng đã thực hiện cho bà Q nhận nợ theo hình thức báo có theo số tài khoản số 0110170143 của bà Q mở tại Ngân hàng Đông Á (bà Q nhận tiền vào ngày 13/5/2016).

Sau khi vay vốn của Ngân hàng tính đến ngày 27/3/2017, bà Q trả được 09 kỳ với tổng số tiền là 16.380.000 đồng (tiền gốc là 14.718.462 đồng, tiền lãi là 1.661.538 đồng); bà Q trả tiền thông qua Hội phụ nữ xã Đông C và Hội phụ nữ xã Đông C nộp tiền cho Ngân hàng Đông Á. Ngân hàng Đông Á cùng Hội phụ nữ xã và UBND xã Đông C nhiều lần đôn đốc nhưng bà Q vẫn chây ì, không trả nốt số tiền còn thiếu, vi phạm nghiêm trọng cam kết khi vay vốn; do đó, từ ngày 18/6/2018, Ngân hàng Đông Á đã chuyển toàn bộ số tiền còn nợ sang nhóm nợ xấu cao nhất với mức lãi suất bằng 1.5 lần lãi suất trong hạn.

Tính đến ngày 12/11/2019, bà Xuân Thị Q còn nợ Ngân hàng Đông Á tổng số tiền: 7.169.603 đồng; trong đó nợ gốc là 5.281.538 đồng; lãi trong hạn 138.462 đồng; lãi quá hạn là 1.749.603 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà Q phải trả ngay số tiền trên cho Ngân hàng Đông Á và các khoản lãi phát sinh cho đến khi thực trả hết nợ cho Ngân hàng. Nếu bà Q không trả nợ thì buộc ông Đỗ Văn Th là chồng bà Q (người bảo lãnh cho bà Q) phải trả nợ thay.

""* Bà Xuân Thị Q và ông Đỗ Văn Th đều có nơi cư trú tại thôn Xuân Th, xã Đông C, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình. Mọi văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập bà Q và ông Th lên Tòa án để nộp văn bản ghi ý kiến của ông bà đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đông Á; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 và lần 2; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đều được Tòa án tống đạt hợp lệ cho bà Q và ông Th theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà Q và ông Th không đến Tòa án để làm việc, không xuất trình tài liệu chứng cứ cho Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa.

* Theo xác nhận của Hội Phụ nữ xã Đông C, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình: Bà Xuân Thị Q vay của Ngân hàng Đông Á số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng); thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 13/5/2016 đến ngày 13/5/2017) với lãi suất 9%/năm (lãi suất trên dư nợ ban đầu) theo hình thức trả góp; gốc và lãi chia đều trả hàng tháng là 1.820.000 đồng, tháng cuối trả 1.780.000 đồng (theo bảng dự tính RULE 78). Việc vay vốn dưới hình thức tín chấp thông qua Hội phụ nữ xã Đông C và ông Đỗ Văn Th là chồng bà Q ký là người bảo lãnh khoản vay. Theo thỏa thuận liên kết giữa Ngân hàng và Hội phụ nữ xã Đông C và UBND xã Đông C thì hàng tháng Hội phụ nữ xã Đông C đứng ra thu tiền của các hội viên Hội phụ nữ xã (trong đó có bà Q). Tính đến ngày 27/3/2017 bà Q đã trả cho Ngân hàng Đông Á được 14.718.462 đồng tiền gốc và 1.661.538 đồng tiền lãi.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

- Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.

- Nguyên đơn chấp chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn bà Xuân Thị Q có nơi cư trú tại thôn Xuân Th, xã Đông C, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình; vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 và lần 2 cho bà Xuân Thị Q và ông Đỗ Văn Th, nhưng cả hai lần bà Q và ông Th đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn bà Xuân Thị Q; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Q và ông Th.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh Th – Nhân viên KHCN phòng giao dịch huyện Đông Hưng có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Thủy.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Về việc yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ số tiền 7.169.603 đồng; trong đó nợ gốc là 5.281.538 đồng; lãi trong hạn 138.462 đồng; lãi quá hạn (tính đến ngày 12/11/2019) là 1.749.603 đồng, đồng thời yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi theo mức lãi nợ quá hạn gấp 1,5 lần mức lãi đã thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi hoàn thành việc trả nợ; Hội đồng xét xử thấy rằng:

Mặc dù bà Q và ông Th không có lời khai nộp cho Tòa án nhưng căn cứ vào lời khai của Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á là bà Trần Thị Thanh Th và xác nhận của Hội Phụ nữ xã Đông C, huyện Đông Hưng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Ngày 13/5/2016 bà Q có vay vốn tại Ngân hàng Đông Á, chi nhánh Thái Bình, phòng giao dịch huyện Đông Hưng số tiền 20.000.000 đồng và Đỗ Văn Th là người ký bảo lãnh khoản vay trên.

Xét việc thỏa thuận của các đương sự khi giao kết hợp đồng thể hiện trong các văn bản gồm: Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ; Danh sách cho vay giải ngân qua tài khoản thẻ; Sao kê chi tiết phát sinh tên chủ tài khoản Xuân Thị Q và bảng dự tính RULE78 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, khi thỏa thuận các bên đương sự đều là những người đủ năng lực trách nhiệm dân sự; Theo thỏa thuận đến ngày 13/5/2017 bà Q phải hoàn thành việc trả nợ cả gốc và lãi cho Ngân hàng. Tuy nhiên bà Q đã không trả nợ cho Ngân hàng như đã cam kết.

Bà Q giao kết hợp đồng vay Ngân hàng Đông Á số tiền 20.000.000 đồng, bà đã trả được số tiền gốc là 14.718.462 đồng, tiền lãi là 1.661.538 đồng. Do vậy tính đến ngày 12/11/2019 bà Q còn nợ Ngân hàng Đông Á số tiền là: nợ gốc là 5.281.538 đồng, lãi trong hạn 138.462 đồng, lãi quá hạn (tính đến ngày 12/11/2019) là 1.749.603 đồng; tổng số tiền 7.169.603 đồng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Q phải trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký kết là có căn cứ chấp nhận. Do ông Th là người ký bảo lãnh khoản nợ trên nên trường hợp bà Q không trả được nợ cho Ngân hàng thì ông Th phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bà Q.

[3] Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí.

Bà Q phải chịu 5% án phí dân sự đối với số tiền phải trả nợ cho Ngân hàng là: 7.169.603 đồng x 5% = 358.000 đồng (số làm tròn).

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 117, 463, 466, 468, 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, 35, 39, 147, 271, 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết 236/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á.

2. Buộc bà Xuân Thị Q, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn Xuân Th, xã Đông C, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình phải trả Ngân hàng Đông Á tổng số tiền 7.169.603 đồng (Bẩy triệu một trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm linh ba đồng); trong đó nợ gốc là 5.281.538 đồng; lãi trong hạn 138.462 đồng; lãi quá hạn (tính đến ngày 12/11/2019) là 1.749.603 đồng.

Trường hợp bà Xuân Thị Q không trả được nợ cho Ngân hàng thì người bảo lãnh là ông Đỗ Văn Th, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Xuân Th, xã Đông C, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình (là chồng bà Q) phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bà Q.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm, bà Xuân Thị Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kì của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Xuân Thị Q vay phải tiếp tục thanh Toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

3. Về án phí: Ngân hàng Đông Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả Ngân hàng Đông Á số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng Đông Á nộp tại biên lai thu số 0008042 ngày 13/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng.

Bà Xuấn Thị Q phải chịu 358.000 đồng (Ba trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường"hợp"bản"án,"quyết"định"được"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"Điều"2" Luật"thi"hành"án"dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành"án" dân"sự"có"quyền"thỏa"thuận"thi"hành"án,"quyền"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"nguyện"thi" hành"án"hoặc"bị"cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"Điều"6,"7,"7a"và"9" Luật"thi"hành"án"dân"sự;"thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy"định"tại" Điều"30"của"Luật"thi"hành"án"dân"sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ