vanban.org

Bản án 12/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Ánh N.

Buộc bà Lâm Kiều O bồi thường cho bà Lâm Thị Ánh N số tiền là 13.576.000đồng (Trong đó tiền bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, uy tín là 11.920.000đồng; tiền cái áo khoác bị hư hỏng là 240.000đồng; tiền cái áo sơ mi tay dài bị hư hỏng là 144.000đồng; tiền cái quần tây bị hư hỏng là 176.000đồng; tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyên đơn bà Lâm Thị Ánh N - Bị đơn bà Lâm Kiều O"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Ánh N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2019/DS - ST
Ngày: 14 - 8 - 2019
V/v “ Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Hương

Ông Trần Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đức Trọn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Tha, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2019/TLST - DS ngày 19 tháng 2 năm 2019 về việc “Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ánh N, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Bà Lâm Kiều O, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, bà Lâm Thị Ánh N trình bày: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 10/01/2019 trên đường đi dạy học bà có ghé vào chợ P thuộc Ấp B, xã P, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh mua bánh mì của bà Nhan Thị Thu H thì bị bà Lâm Kiều O tạt nước sơn vào người và chửi bà với nội dung cho rằng bà có quan hệ tình cảm với chồng của bà O. Việc bà O tạt nước sơn vào người và chửi bới bà làm tổn hại nghiêm trọng đến danh dự, uy tính, nhân phẩm của bà và làm cho quần áo, giày, xe, nón bảo hiểm của bà dính sơn hư hỏng. Nay bà yêu Tòa án buộc bà O bồi thường cho bà tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bằng 10 tháng lương cơ sở với số tiền là 14.900.000đồng (yêu cầu theo mức lương mới); buộc bà O bồi thường về tài sản bị hư hỏng gồm: Áo khoác bị dính sơn với số tiền 250.000đồng, bộ quần áo bị dính sơn với số tiền là 400.000 đồng, đôi giày bị dính sơn với số tiền là 200.000đồng, 01 cái nón bảo hiểm bị dính sơn với số tiền là 100.000đồng; tiền khắc phục xe bị dính sơn 1.000.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản tự khai (Bút lục 31 - 33) và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Lâm Kiều O trình bày: Bà thừa nhận vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 10/01/2019, tại chợ P bà có tạt nước sơn vào người bà N, nguyên nhân bà tạt nước sơn vào người bà N là do bà cho rằng bà N có mối quan hệ tình cảm với chồng của bà. Nay bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà N.

Ý kiến của vị Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án:

Vị Kiểm sát viên cho rằng, qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Việc bà O tạt nước sơn vào người bà N tại chợ P và việc bà O cho rằng bà N có quan hệ tình cảm với chồng bà O nhưng bà O không có chứng cứ chứng minh đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và tài sản của bà N, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà O bồi thường cho bà N giá trị cái áo khoác, cái áo sơ mi, cái quần tây, cái nón bảo hiểm bị hư hỏng do bị bà O tạt nước sơn theo giá do Hội đồng định giá đã định ngày 12/6/2019; buộc bà O bồi thường cho bà N tiền khắc phục xe bị dính sơn là 1.000.000 đồng; buộc bà O bồi thường cho bà N tiền bị tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bằng 08 tháng lương cơ sở là 11.920.000 đồng. Đối với yêu cầu của bà N yêu cầu bà O bồi thường giá trị đôi giày bị hư hỏng với số tiền 200.000đồng nhưng bà N không chứng minh được đôi giày của bà bị hư hỏng do bà O tạt nước sơn nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận phần yêu cầu này của bà N. Ngoài ra, vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về phần lệ phí định giá và án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Ánh N, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về nội dung vụ án, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như ý kiến của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Việc nguyên đơn bà Lâm Thị Ánh N cho rằng vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 10/01/2019, tại chợ P thuộc Ấp B, xã P, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh bà bị bị đơn bà Lâm Kiều O tạt nước sơn vào người là có thật; sự việc này phía bị đơn bà O cũng thừa nhận nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì phía nguyên đơn bà N không cần phải chứng minh. Đối với lý do mà bà O đưa ra là do bà N có quan hệ tình cảm nam nữ với chồng bà O nên bà O tạt nước sơn bà N là không có cơ sở chấp nhận bởi vì trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà O không có chứng cứ gì chứng minh trong khi đó bà N không thừa nhận.

Xét yêu cầu của bà N yêu cầu bà O bồi thường tài sản bị hư hỏng do bà O tạt nước sơn gồm: Áo khoác bị dính sơn với số tiền 250.000đồng, bộ quần áo bị dính sơn với số tiền là 400.000 đồng, 01 cái nón bảo hiểm bị dính sơn với số tiền là 100.000đồng; tiền khắc phục xe bị dính sơn 1.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi tạt nước sơn của bà O là hành vi trái pháp luật, đã làm hư hỏng đến tài sản nêu trên của bà N và bà N đã cung cấp được chứng cứ chứng minh nên căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu này của bà N. Tuy nhiên, mức yêu cầu bồi thường của bà N đối với cái áo khoác, bộ quần áo và cái nón bảo hiểm cao hơn so với giá do Hội đồng định giá ngày 12/6/2019 định nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận theo giá do Hội đồng định giá đã định, cụ thể: giá trị cái áo khoác số tiền là 240.000đồng; cái áo sơ mi tay dài số tiền là 144.000đồng; cái quần tây số tiền là 176.000đồng; cái nón bảo hiểm số tiền là 96.000đồng.

Xét yêu cầu của bà N yêu cầu bà O bồi thường đôi giày bị hư hỏng do bà O tạt nước sơn với số tiền là 200.000đồng, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận; bởi vì trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà N không có chứng cứ gì chứng minh đôi giày của bà bị bà O tạt nước sơn làm hư hỏng.

Xét yêu cầu của bà N yêu cầu bà O bồi thường tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bằng 10 tháng lương cơ sở với số tiền 14.900.000đồng (yêu cầu theo mức lương mới), Hội đồng xét xử xét thấy: Qua quá trình xác minh cho thấy, thông tin việc bà O cho rằng bà N có quan hệ tình cảm nam nữ với chồng bà O và việc bà N bị bà O tạt nước sơn đã lang truyền đến nhiều người dân ở địa phương, đến đồng nghiệp, bạn bè, người thân bà N biết; hơn nữa bà N là giáo viên nên sự việc này đã xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà N (Bút lục 40 - 56). Do đó, căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 592 của Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu này của bà N, buộc bà O bồi thường cho bà N tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 08 tháng lương cơ sở với số tiền 11.920.000 đồng (08 tháng x 1.490.000đồng/tháng = 11.920.000đồng).

[3] Về lệ phí định giá: Lệ phí định giá số tiền là 300.000 đồng, buộc bà O phải chịu 300.000đồng nhưng do Nga đã nộp tạm ứng với số tiền 300.000 đồng nên buộc bà O phải trả lại cho bà N số tiền 300.000đồng. Bà N không phải chịu tiền lệ phí định giá.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 678.800đồng (5% x 13.576.000đồng).

Do bà N không được chấp nhận đối với yêu cầu bà O bồi thường về phần đôi giày nên buộc bà N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0019779 ngày 19/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, bà N không phải nộp tiếp.

[5] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên: Như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

[6] Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 589 và Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Ánh N.

Buộc bà Lâm Kiều O bồi thường cho bà Lâm Thị Ánh N số tiền là 13.576.000đồng (Trong đó tiền bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, uy tín là 11.920.000đồng; tiền cái áo khoác bị hư hỏng là 240.000đồng; tiền cái áo sơ mi tay dài bị hư hỏng là 144.000đồng; tiền cái quần tây bị hư hỏng là 176.000đồng; tiền cái nón bảo hiểm bị hư hỏng là 96.000đồng; tiền sửa chữa, khắc phục xe bị dính sơn là 1.000.000đồng).

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Ánh N yêu cầu bà Lâm Kiều O bồi thường giá trị đôi giày là 200.000đồng.

Về lệ phí định giá: Lệ phí định giá số tiền là 300.000 đồng, buộc bà Lâm Kiều O phải chịu 300.000đồng nhưng do bà Lâm Thị Ánh N đã nộp tạm ứng với số tiền 300.000 đồng nên buộc bà Lâm Kiều O phải trả lại cho bà N số tiền 300.000đồng. Bà Lâm Thị Ánh N không phải chịu tiền lệ phí định giá.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tướng ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Lâm Kiều O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 678.800đồng (5% x 13.576.000đồng).

Buộc bà Lâm Thị Ánh N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0019779 ngày 19/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, bà N không phải nộp tiếp.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ