- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NHCS - Trần Thị B"
- Tòa quyết gì? Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 12/2018/TCDS-ST Ngày: 25-7- 2018 “V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Huận
2. Bà Đậu Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Duẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2018/TLST-TCDS, ngày 14 tháng 3 năm 2018 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội VN
Địa chỉ: Tòa nhà CC5, khu bán đảo Linh Đ, phường Hoàng L, quận Hoàng M, thành phố Hà N.
Người đại diện theo pháp luật: ông Dương Quyết Th –Tổng giám đốc Ngân hàng CSXH VN.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hồng Ph –Phó Giám đốc Phụ trách Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng T, tỉnh Quảng Bình. (Theo Quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án số 1792/QĐ-NHCS ngày 09/6/2015.
2. Bị đơn: chị Trần Thị B; sinh năm 1987
Nơi ĐKHKTT: thôn Kinh T, xã Cảnh H, huyện Quảng Tr, tỉnh Quảng Bình.
Chỗ ở hiện nay: thôn Cây Th, xã Cảnh H, huyện Quảng Tr, tỉnh Quảng Bình.
Người làm chứng:
Bà Cao Thị Ng; Địa chỉ: thôn Kinh T, xã Cảnh H, huyện Quảng Tr, tỉnh Quảng Bình.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Hồng Ph có mặt, chị Trần Thị B và bà Cao Thị Ng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 27/02/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng CSXH VN trình bày: Ngày 23/7/2014, chị Trần Thị B đã vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Quảng Tr số tiền 30.000.000 đồng theo chương trình cho vay Hộ cận nghèo, lãi suất 0,72%/tháng, theo khế ước nhận nợ số 6000003000013145, thời hạn trả nợ vào ngày 10/7/2017.
Ngày 05/7/2017 chị B đề nghị gia hạn nợ và được Ngân hàng phê duyệt gia hạn nợ thời hạn từ ngày 10/7/2017 đến 10/01/2018 là ngày trả nợ cuối cùng. Tuy nhiên đến hạn trả nợ, chị B không thực hiện nghĩa vụ nên Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 17/01/2018. Đến ngày 07/4/2018, chị B đã thực hiện việc thanh toán cho Ngân hàng một phần nghĩa vụ số tiền 12.500.000 đồng.
Để thu hồi tài sản cho Nhà nước, đại diện Ngân hàng CSXH VN đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Trần Thị B phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền 20.802.942 đồng, trong đó nợ gốc 17.500.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/7/2018) là 3.302.942 đồng (trong đó: lãi trong hạn 3.004.866 đồng và lãi quá hạn 298.076 đồng) và yêu cầu chị B phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.
Tại bản tự khai ngày 03/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trần Thị B trình bày: Vào tháng 7 năm 2014, bà Cao Thị Ng có nhờ chị vay vốn tại Ngân hàng CSXH huyện Quảng Tr với số tiền 30.000.000 đồng, theo chương trình cho vay hộ Cận nghèo, lãi suất 0,72%/tháng. Sau khi nhận tiền chị đã đưa cho bà Cao Thị Ng. Chị B thừa nhận chị đã ký vào sổ vay vốn, giấy đề nghị gia hạn nợ. Hiện nay chị không biết bà Ng đi đâu, làm gì. Ngày 07/4/2018, chị đã thanh toán cho Ngân hàng CSXH VN, Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Quảng Tr số tiền 12.500.000 đồng. Hiện nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị trả toàn bộ số nợ còn lại, chị nhất trí, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã chấp hành pháp luật, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm chị Trần Thị B và bà Cao Thị Ng mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị B và bà Ng là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chị Trần Thị B phải trả nợ cho Ngân hàng CSXH VN số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/7/2018) tổng cộng là 20.802.942 đồng, trong đó tiền nợ gốc 17.500.000 đồng và tiền nợ lãi 3.302.942; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: bị đơn chị Trần Thị B có nơi cư trú tại xã Cảnh H, huyện Quảng Tr, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch.
Giữa Phòng giao dịch ngân hàng CSXH huyện Quảng Tr thuộc Ngân hàng CSXH VN với chị Trần Thị B đã ký kết hợp đồng tín dụng cho vay với mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, do chị Bông vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện chị B tại Tòa án đòi số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, xác định đây tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập nhưng chị Trần Thị B và bà Cao Thị Ng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào các Điều 227 và 229 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn chị Trần Thị B và người làm chứng bà Cao Thị Ng.
Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:
Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Quảng Tr với chị Trần Thị B đã giao kết Hợp đồng tín dụng vào ngày 23/7/2014, số tiền vay là 30.000.000 đồng, lãi suất 0,72%/tháng, theo khế ước nhận nợ số 6000003000013145, thời hạn trả nợ vào ngày 10/7/2017. Trên cơ sở Hợp đồng ký kết, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho chị B như thỏa thuận. Như vậy, Hợp đồng tín dụng giữa hai bên có nội dụng và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên có hiệu lực thi hành.
Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và phía bị đơn thừa nhận, thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay chị Trần Thị B chỉ mới thanh toán được một khoản tiền gốc và lãi cho Ngân hàng, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm thời hạn thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi trong hạn và quá hạn với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết. Bảng tính lãi trong hạn và lãi quá hạn do Ngân hàng cung cấp đã tính đúng số ngày, mức lãi suất áp dụng trong hợp đồng tín dụng.
Xét đề nghị của chị Trần Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, vì sau khi nhận tiền từ Ngân hàng, chị B đã đưa cho bà Cao Thị Ng số tiền 30.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng: giữa Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Quảng Tr với chị Trần Thị B đã giao kết Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng hợp pháp nên phát sinh hiệu lực thi hành. Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay và chị B cũng đã thừa nhận trực tiếp ký nhận tại “phiếu chi”, nhận tiền từ Ngân hàng cũng như ký hồ sơ đề nghị vay vốn và giấy gia hạn nợ. Đồng thời, theo địa chỉ mà chị B cung cấp, Tòa án đã tống đạt, triệu tập nhiều lần đối với bà Ng nhưng bà Ng không có mặt tại Tòa án. Kết quả xác minh tại địa phương, hiện tại bà Cao Thị Ng đã rời đi khởi địa phương, không rõ tin tức, địa chỉ. Tòa án yêu cầu chị B cung cấp địa chỉ mới của bà Ng nhưng chị B không cung cấp được và cũng không biết được hiện tại bà Ng đang làm gì và ở đâu. Do đó, việc chị B cho rằng đã đưa đã đưa số tiền 30.000.000 đồng cho bà Ng, HĐXX không có cơ sở chấp nhận. Trong trường hợp chị B có vay tiền từ Ngân hàng rồi cho bà Ng vay lại thì chị B có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng một vụ án khác theo quy định, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng CSXH VN, buộc chị Trần Thị B phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ 20.802.942 đồng, trong đó nợ gốc 17.500.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/7/2018) là 3.302.942 đồng (trong đó: lãi trong hạn 3.004.866 đồng và lãi quá hạn 298.076 đồng).
Đối với nghĩa vụ chậm thi hành án tiền vay do tổ chức tín dụng cho vay, áp dụng Án lệ số 08/2016/AL công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để tính lãi chậm trả.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (25/7/2018), chị Trần Thị B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Về án phí: Do yêu cầu của của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chị Trần Thị Bông phải chịu toàn bộ tiền án phí vụ án đê sung vào công quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng CSXH VN về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn chị Trần Thị B.
Buộc chị Trần Thị B phải trả cho Ngân hàng CSXH VN số tiền 20.802.942 đồng, trong đó nợ gốc 17.500.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/7/2018) là 3.302.942 đồng (trong đó: lãi trong hạn 3.004.866 đồng và lãi quá hạn 298.076 đồng).
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (25/7/2018), chị Trần Thị B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay” .
2. Về án phí: chị Trần Thị B phải chịu 1.040.147 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(25/7/2018). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Bình; - VKSND huyện Quảng Trạch; - Chi cục THADS huyện Quảng Trạch; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Phạm Hữu Tình |