| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/KDTM-PT Ngày 02-10-2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈ NH BÀ RỊ A – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Quang
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễ n Văn Hiế n
Ông Nguyễ n Thà nh Hiế u
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Tì nh – Thư ký Tò a á n nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu: Ông Vũ Duyên Trườ ng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 28/9/2018 và 02/10/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2017/TLPT-KDTM ngày 26 tháng 4 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án kinh doanh thương mạ i sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27 tháng 02 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố R bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2018/QĐPT-KDTM ngày 03/5/2018; Quyế t đị nh hoã n phiên tò a số 08/2018/QĐ-PT ngà y 21/5/2018; Quyế t đị nh tạ m ngừ ng phiên tò a số 11/2018/QĐPT-KDTM ngà y 20/6/2018; Thông báo V/v mở lạ i phiên tò a số 03/2018/TB-TA ngà y 31/8/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N Việt Nam (viế t tắ t là Ngân hàng N).
Địa chỉ: đường L, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K – Chủ tịch Hội đồng thà nh viên.
Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyền : Ông Trầ n Văn C – Giám đốc Chi nhá nh ngân hàng N.
Ông Trần Văn C ủy quyền tham gia tố tụng lại cho ông Hoà ng Lê D – Phó giám đố c ngân hà ng N chi nhánh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (theo Quyết định ủy quyền số 1136/QĐ-NHNo- BRVT ngày 31/5/2018 - có mặt).
Bị đơn: Công ty Cổ phần M (viế t tắ t là Công ty M).
Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trầ n Minh T - Giám đố c công ty (chết ngày 08/5/2017).
Các cổ đông sáng lập gồm:
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1957 (vợ ông T – vắ ng mặ t).
- Ông Trần Ngọc V, sinh năm 1984 (con ông T – vắ ng mặ t).
Cùng địa chỉ: Quốc lộ N, phườ ng Y, thành phố R, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Công ty M: Luật sư Lê Văn N – Văn phòng luật sư Lê N thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người có quyề n lợi nghĩ a vụ liên quan:
1. Ông Trần Minh T, sinh năm 1960 (chết ngày 08/5/2017), những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Minh T gồm:
1.1. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1957 (vắ ng mặ t).
1.2. Ông Trần Ngọc V, sinh năm 1984 (vắ ng mặ t).
1.3. Bà Trần Thị Hoàng Y, sinh năm 1988 (vắ ng mặ t).
Cùng địa chỉ: Quốc lộ N, phườ ng Y, thành phố R, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
1.4. Ông Trần Anh T1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Đường Q, phường O, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
Ông V, bà Y, ông T1 đều ủy quyền tham gia tố tụng cho: Ông Dương Thanh T2, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp Đ, xã K, thành phố R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (theo các giấy ủy quyền 14/5/2018; ngày 16/5/2018 – có mặt).
1.5. Cháu Trần Thị Mỹ T3, sinh năm 2002.
Người giám hộ theo pháp luật của cháu T3: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1957 (vắ ng mặ t).
Cùng địa chỉ: Quốc lộ N, phườ ng Y, thành phố R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1957 (vắ ng mặ t).
Địa chỉ: Quốc lộ N, phườ ng Y, thành phố R, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bà L ủy quyền tham gia tố tụng cho: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Đường B, phườ ng R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (theo giấy ủy quyền ngày 14/5/2018 – có mặt).
3. Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Quốc lộ N, phườ ng Y, thành phố R, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
4. Công ty Cổ phần Ô tô S.
Địa chỉ: khu công nghiệp E, đườ ng A, phườ ng F, thành phố E, tỉnh Đồng Nai.
* Người kháng cáo: Bị đơn làCông ty M; ngườ i có quyề n lợ i nghĩa vụ liên quan là ông Trầ n Minh T (nay là cá c đồ ng thừ a kế củ aông T) và bà Phạm Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/12/2013, bản tự khai đạ i diệ n theo ủ y quyề n của nguyên đơn của Ngân hàng N trình bày: Nguyên trướ c đây Công ty M đã ký 03 hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng N Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (viết tắt là Ngân hà ng N Bà Rịa - Vũng Tàu) tổng cộng là 6.200.000.000đ, cụ thể như sau:
1. Ngày 30/01/2008, Công ty M ký Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 0803388.01/TC2, (số công chứng: 521, quyển số: 01.TPCC-SCC/HĐGD tại Phòng công chứng X tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), thế chấp cửa hàng ô tô trên thửa đất số 549, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) (theo Giấy phép xây dựng tạm số 04/GPXD ngày 11/01/2006 của UBND huyệ n T (nay là thị xã X )) cho Ngân hà ng N Bà Rịa - Vũng Tàu để vay 1.400.000.000đ (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số: 6000-LAV-200802891 (0803388.00001/HĐTD) ngày 30/01/2008 (viế t tắ t là Hợ p đồ ng tí n dụ ng ngà y 30/01/2008); thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày nhận tiền (30/01/2008); lãi suất trong hạn 1.05%/tháng, quá hạn là 1.575%/tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng này thì:
- Ngày 21/7/2008 Ngân hà ng N Bà Rịa - Vũng Tàu và Công ty M ký Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 0803388.00001/HĐTD-PL1 thỏa thuận lại lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 03 tháng một lần theo lãi suất cho vay trung hạn hiện hành của Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu tại thời điểm điều chỉnh, áp dụng từ ngày 21/7/2008; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất nợ trong hạn.
- Ngày 28/11/2008, Ngân hà ng N Bà Rịa - Vũng Tàu và Công ty M ký Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 0803388.00001/HĐTD-PL2 thỏa thuận lại lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh tăng, giảm theo lãi suất cho vay trung hạn của Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu, áp dụng từ ngày 01/12/2008; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất nợ trong hạn.
- Công ty M mới thanh toán nợ gốc cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu 03 lần, cụ thể là ngày 02/8/2011 thanh toán 910.000.000đ; ngày 15/12/2014 thanh toán 5.000.000đ; ngày 09/4/2015 thanh toán 12.000.000đ. Tổng cộng là 927.000.000đ và thanh toán nợ lãi trong hạn cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu được 487.799.063đ vào ngày 02/8/2011. Như vậy tổng số nợ gốc Công ty M còn nợ Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu của hợp đồng tín dụng này là 473.000.000đ.
2. Ngày 26/01/2011 Công ty M cùng với Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu và bà Phạm Thị L ký Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số: 0803388.01/TC1 – PL5 (số công chứng: 209, quyển số: 01.TP-SCC/HĐGD) đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số: 0803388.01/TC1 (số công chứng: 512, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 30/01/2008 để thay đổi phạm vi bảo đảm và xác định tổng giá trị tài sản thế chấp đối với các tài sản gồm:
- Quyền sử dụng đất 936m2 (trong đó đất ở NT 200m2 + đất CD 376m2+ CLN 438m2) thuộc thửa số 549 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490637 của UBND huyệ n T (nay là thị xã X), cấp cho vợ chồng bà Phạm Thị L ông Trần Minh T vào ngày 28/01/2008.
- Quyền sử dụng đất 2.272m2 (trong đó đất ở NT 300m2 + đất CD 1.574m2 + CLN 398m2) thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490638 của UBND huyệ n T (nay là thị xã X) cấp cho vợ chồng bà Phạm Thị L ông Trần Minh T vào ngày 28/01/2008 để bảo lãnh thế chấp cho Công ty M vay 2.800.000.000đ (Hai tỷ tám trăm triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số: 6000LAV201100420/HĐTD ngày 26/01/2011 (viế t tắ t là Hợp đồng tín dụng ngày 26/01/2011). Thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày nhận tiền (26/01/2011); lãi suất cho vay thả nổi theo lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu theo từng thời kỳ, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng này thì Công ty M mới thanh toán nợ gốc cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu được 5.000.000đ vào ngày 15/12/2014 và 3.000.000đ vào ngày 14/6/2016, tổng cộng là 8.000.000đ, nên tổng số nợ gốc của hợp đồng tín dụng này còn nợ là 2.792.000.000đ. Tiền lãi của hợp đồng tín dụng này Công ty M chưa thanh toán được đồng nào.
3. Trên cơ sở Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 084903-202.15/TC giữa Công ty M cùng với Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu và bà Phạm Thị L (số công chứng: 2693, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD) đã ký vào ngày 26/11/2008 đối với các tài sản gồm:
- Quyền sử dụng 457,9m2 đất (300m2 đất thổ cư + 157,9m2 đất nông nghiệp) thuộc thửa số 342 tờ bản đồ số 51 cùng tài sản vật kiến trúc gắn liền với đất tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143339 của UBND thị xã R (nay là thành phố R) cấp cho ông Trần Minh T vào ngày 01/8/1998.
- Quyền sử dụng 353,1m2 đất (100m2 đất ODT + 253m2 đất HNK) thuộc thửa số 346 tờ bản đồ số 51 cùng tài sản vật kiến trúc gắn liền với đất tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 951849 của UBND thị xã R (nay là thành phố R ) cấp cho vợ chồng bà Phạm Thị L ông Trần Minh T vào ngày 12/4/2005.
Nên ngày 01/3/2011 Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu ký Hợp đồng tín dụng số: 6000LAV201100706/HĐTD (viế t tắ t là Hợp đồng tín dụng ngày 01/3/2011) cho Công ty M vay 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng), thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày nhận tiền (01/3/2011); lãi suất cho vay thả nổi theo mức lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu theo từng thời kỳ, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng này, Công ty M mới thanh toán nợ gốc cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu được 5.000.000đ vào ngày 15/12/2014 và 3.000.000đ vào ngày 14/6/2016, tổng cộng là 8.000.000đ, nên tổng số nợ gốc Công ty M còn nợ 1.992.000.000đ, còn tiền lãi Công ty M chưa thanh toán được đồng nào.
Như vậy tổng cộng số nợ gốc của 03 hợp đồng tín dụng nêu trên Công ty M mới trả cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu được 943.000.000đ, sau đó không thanh toán nợ gốc và lãi theo cam kết. Do cả 3 hợp đồng tín dụng đã quá hạn trả nợ gốc và lãi, nhưng Công ty M vẫn không thực hiện trả nợ theo các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, nên Ngân hà ng N Việt Nam khởi kiện yêu cầu Công ty M phải trả nợ của 03 hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 27/02/2017 tổng dư nợ (gốc, lãi) của 3 hợp đồng tín dụng là 11.543.751.667đ, trong đó nợ gốc là 5.257.000.000đ, nợ lãi là 6.286.751.667đ, đồng thời Công ty M phải trả lãi phát sinh theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến ngày tất toán nợ. Trường hợp không thanh toán được nợ đề nghị cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản thế chấp của ông T và bà L để thu hồi nợ.
Bị đơn: Công ty M do ông Trần Minh T đại diện theo pháp luật trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau:
Công ty M xác nhận có vay vốn tại Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu theo các Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-200802891 (0803388.00001/HĐTD) ngày 31/01/2008; Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100420 ngày 26/01/2011; Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100706 ngày 01/3/2011 với tổng số tiền là 6.200.000.000đ và tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng mà Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu đã tí nh. Để đảm bảo các khoản vay của ba hợp đồng tín dụng trên thì Công ty M và bà L, ông T đã thế chấp các tài sản theo như nội dung khởi kiện của Ngân hàng N Bà Rịa – Vũng Tàu đã nêu.
Trong quá trình vay nợ, Công ty M đã trả cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu 943.000.000đ nợ gốc. Sau đó, do kinh doanh không có hiệu quả nên Công ty M không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu.
Năm 2014, được sự đồng ý của Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu, Công ty M đã cho Công ty TNHH Vũng Tàu W (viế t tắ t là Công ty W thuê lại nhà xưởng của công ty đặt trên các thửa đất 47, 549, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) để trả nợ cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu. Kế hoạch trả nợ năm thứ nhất trả 350.000.000đ, năm thứ hai trả 400.000.000đ, năm thứ ba trả 500.000.000đ, năm thứ tư trả 600.000.000đ, năm thứ năm trả 700.000.000đ và hết năm thứ năm sẽ bán đất cho Công ty W để trả hết nợ gốc và lãi.
Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N Bà Rịa – Vũng Tàu, Công ty M đồng ý trả nợ gốc 5.257.000.000đ theo phân kỳ hợp lý. Riêng tiền lãi Công ty M đề nghị Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu xem xét giảm bớt một phần tiền lãi, vì trước đây khi các khoản vay gần đến hạn thanh toán Công ty M đã đề nghị được thanh lý đất trước để có tiền trả nợ nhưng Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu không đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Vợ chồng ông Trần Minh T bà Phạm Thị L trình bày tại Tòa án cấp s ơ thẩ m như sau: Vợ chồng ông T, bà L có dùng tài sản chung thế chấp cho Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu đảm bảo việc vay nợ cho Công ty M theo các Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-200802891 (0803388.00001/HĐTD) ngày 31/01/2008; Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100420ngày 26/01/2011; Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100706 ngày 01/3/2011. Do Công ty M kinh doanh không có hiệu quả nên không thanh toán tiền vay theo đúng hạn.
Năm 2014, được sự đồng ý của Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu, vợ chồng ông T đã cho Công ty W thuê các thửa đất 47, 549 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) để có tiền trả nợ cho Công ty M. Ông T, bà L đề nghị Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu tạo điều kiện cho Công ty M có thời gian hợp lý để trả nợ.
2. Công ty Cổ phần Ô tô S (viế t tắ t Công ty S) trình bày: Công ty S nhận thuê lại thửa đất số 47, 549 tờ bản đồ số 39 cùng toàn bộ tài sản trên đất tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của Công ty M từ Công ty W.
Công ty S không có ý kiến gì về nội dung tranh chấp giữa Ngân hà ng N Việt Nam và Công ty M. Sau khi vụ án được giải quyết xong bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, Công ty S xin được tiếp tục thuê các thửa đất số 47, 549, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để làm mặt bằng kinh doanh, vì trong quá trình thuê đất Công ty S đã đặt cọc cho ông Trần Minh T, bà Phạm Thị L số tiền 96.000.000đ và đầu tư rất nhiều chi phí để cải tạo và nâng cấp các hạng mục trên đất. Công ty S xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.
3. Ông Nguyễn Trọng N1 trình bày: Ông N1 thuê một phần thửa 342, 346 tờ bản đồ số 51 cùng các tài sản trên đất tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R của ông Trần Minh T, bà Phạm Thị L để mở Garage Auto N1 từ tháng 03 năm 2016 đến nay. Ông N1 không có ý kiến gì về nội dung tranh chấp giữa Ngân hà ng N Việt Nam và Công ty M.
Tại Bản án kinh doanh thương mạ i sơ thẩm số: 03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 227 và 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 342, 343, 355, 471, 474, 715, 716, 721 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điề u 91 và Điều 95 Luậ t cá c tổ chứ c tí n dụ ng ; Điều 27 Pháp lệnh lệ phí, án phí Toà án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hà ng N Việt Nam về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với Công ty M:
- Buộc Công ty M có trách nhiệm trả cho Ngân hà ng N Việt Nam tổng số nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/02/2017 là 11.543.751.667đ (Mười một tỷ, năm trăm bốn mươi ba triệu, bảy trăm năm mươi mốt ngàn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng) và lãi phát sinh kể từ ngày 28/02/2017 theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết; Trong đó nợ gốc 5.257.000.000đ (Năm tỷ, hai trăm năm mươi bảy triệu đồng), nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn 6.286.751.667đ (Sáu tỷ, hai trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi mốt ngàn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng) gồm:
1. Hợp đồng tín dụng ngày 30/01/2008, nợ gốc: 473.000.000đ (Bốn trăm bảy mươi ba triệu đồng); Nợ lãi trong hạn: 390.496.528đ (Ba trăm chín mươi triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, năm trăm hai mươi tám đồng); Nợ lãi quá hạn: 163.901.875đ (Một trăm sáu mươi ba triệu, chín trăm lẻ một ngàn, tám trăm bảy mươi lăm đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 28/02/2017 cho đến khi trả hết nợ gốc theo hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 30/01/2008.
Trường hợp Công ty Cổ phần M không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên, thì Ngân hàng N Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ gồm:
- Cửa hàng ô tô được xây dựng trên thửa đất số 549, tờ bản đồ số 39 tại ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X ) theo Giấy phép xây dựng tạm số 04/GPXD ngày 11/01/2006 của UBND huyệ n T (nay là thị xã X) cấp cho Công ty M (theo Biên bản thẩm định tài sản ngày 05 tháng 10 năm 2016 do Tòa án lập).
2. Hợp đồng tín dụng ngày 26/01/2011, nợ gốc: 2.792.000.000đ (Hai tỷ, bảy trăm chín mươi hai triệu đồng); Nợ lãi trong hạn: 2.420.108.125đ (Hai tỷ, bốn trăm hai mươi triệu, một trăm lẻ tám ngàn, một trăm hai mươi lăm đồng); Nợ lãi quá hạn: 952.352.951đ (Chín trăm năm mươi hai triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, chín trăm năm mươi mốt đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 28/02/2017 cho đến khi trả hết nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng ngày 26/01/2011.
Trường hợp Công ty M không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên, thì Ngân hàng N Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ gồm:
- Quyền sử dụng 936m2 đất (trong đó đất ở NT 200m2 + đất CD 376m2 + CLN 438m2) thuộc thửa số 549 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490637 do UBND huyệ n T (nay là thị xã X) cấp ngày 28/01/2008 cho bà Phạm Thị L, ông Trần Minh T và cùng toàn bộ tài sản vật kiến trúc gắn liền với đất.
- Quyền sử dụng 2.272m2 đất (trong đó đất ở NT 300m2 + đất CD 1.574m2 + CLN 398m2) thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490638 do UBND huyệ n T (nay là thị xã X) cấp ngày 28/01/2008 cho bà Phạm Thị L , ông Trần Minh T và cùng toàn bộ tài sản vật kiến trúc gắn liền với đất (theo Biên bản thẩm định tài sản ngày 05 tháng 10 năm 2016 do Tòa án lập).
3. Hợp đồng tín dụng ngày 01/3/2011, nợ gốc: 1.992.000.000đ (Một tỷ, chín trăm chín mươi hai triệu đồng); Nợ lãi trong hạn: 1.697.572.569đ (Một tỷ, sáu trăm chín mươi bảy triệu, năm trăm bảy mươi hai ngàn, năm trăm sáu mươi chín đồng); Nợ lãi quá hạn: 662.319.618đ (Sáu trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm mười chín ngàn, sáu trăm mười tám đồng) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 28/02/2017 cho đến khi trả hết nợ gốc theo hợp đồng tín dụng ngày 01/3/2011.
Trường hợp Công ty M không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên, thì Ngân hàng N Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ gồm:
+ Quyền sử dụng 457,9m2 đất (300m2 đất thổ cư + 157,9m2 đất nông nghiệp) thuộc thửa số 342 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143339 do UBND thị xã R (nay là thành phố R ) cấp ngày 01/8/1998 cho ông Trần Minh T và cùng toàn bộ tài sản vật kiến trúc gắn liền với đất.
+ Quyền sử dụng 353,1m2 đất (100m2 đất ODT + 253m2 HNK) thuộc thửa số 346 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 951849 do UBND thị xã R (nay là thành phố R ) cấp ngày 12/4/2005 cho bà Phạm Thị L, ông Trần Minh T và cùng toàn bộ tài sản vật kiến trúc gắn liền với đất (theo Biên bản thẩm định tài sản ngày 05 tháng 10 năm 2016 do Tòa án lập).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định tài sản , án phí, quyề n khá ng cáo, thờ i hiệ u thi hà nh bả n á n theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Cùng ngày 20/3/2017, bị đơn Công ty M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vợ chồ ng ông T bà L cùng có đơn kháng cáo vớ i cùng nội dung đề nghị hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R với lý do:
- Công ty M có trụ sở tại huyệ n T (nay là thị xã X) nhưng Tòa án nhân dân thành phố R thụ lý giải quyết vụ án là sai thẩm quyền.
- Quá trình xét xử sơ thẩm, ông T có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do bị bệnh đang phải điều trị là có lý do chính đáng, nhưng Tòa án thành phố R vẫn xét xử vắng mặt ông T là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- Án sơ thẩ m buộc Công ty M phải trả số tiền lãi 6.286.751.667đ là vô lý, không có căn cứ pháp luật.
- Án sơ thẩm tuyên xử phát mãi các tài sản là cửa hàng ô tô và các quyền sử dụng đất của vợ chồ ng ông T bà L theo các hợp đồng thế chấp tài sản là không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân bà L, vì các hợp đồng thế chấp tài sản là hoàn toàn sai pháp luật và bị vô hiệu.
* Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm phát sinh các vấn đề cầ n phải xử lý về mặ t tố tụ ng như sau:
1. Ngườ i đạ i diệ n theo phá p luậ t củ a Công ty M và ngườ i thừ a kế quyề n , nghĩa vụ tố tụng của ông T:
- Sau khi Công ty M và vợ chồ ng ông T bà L có đơn kháng cáo ngày 20/3/2017, thì ngày 08/5/2017 ông T chế t (BL 493).
- Cùng ngày 26/6/2017, TAND tỉ nh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Thông bá o số 13/TB-TA (BL 501) gử i Công ty M về việ c cung cấ p ng ười đại diện theo pháp luật của Công ty M và Thông bá o số 12/TB-TA (BL 502) gửi bà Phạm Thị L về việ c cung cấ p người kế thừa quyề n, nghĩa vụ tố tụng của ông T.
- Ngày 12/01/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Thông báo về việ c tì m kiế m người kế thừa quyề n, nghĩa vụ tố tụng số 01/TB-TA (BL 543).
- Trong các ngày 18, 19, 20/01/2018, Trung tâm dị ch vụ truyề n hì nh thà nh phố Hồ Chí Minh đã có chương trì nh phá t só ng trên kênh HTV1 “Tì m người thân củ a ông Trầ n Minh T”. Đồng thời trong cá c ngày 19, 20, 21/01/2018, Báo Pháp luật Việt Nam và trong cá c ngà y 22, 23, 24/01/2018, Báo Bà Rịa – Vũng Tà u đã đăng 03 kỳ báo liên tiế p tìm người kế thừa quyề n, nghĩa vụ tố tụng của ông T (BL 529-541).
- Tại Biên bả n là m việ c ngày 03/4/2018 (BL 590) của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đố i vớ i vợ , con củ a ông T đã thể hiệ n nộ i dung:
+ Về quan hệ nhân thân củ a ông T: Ông T có 01 người vợ là bà Phạm Thị L. Ông T và bà L có 04 người con chung là: Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3. Ông T không có con nuôi, con riêng.
+ Về tư cá ch phá p nhân củ a Công ty M: Công ty M có 03 cổ đông sá ng lậ p gồ m: Ông Trần Minh T (giám đốc đồng thờ i là ngườ i đại diện theo pháp luật), bà Phạm Thị L (vợ ông T), ông Trần Ngọc V (là con ông T). Sau khi ông T chế t, Công ty M chưa làm thủ tục thay đổ i người đại diện theo pháp luật.
2. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 20/6/2018: Ông D đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a Ngân hàng N xác nhận lời trình bày của Luậ t sư N (bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty M), ông H (đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a bà L), ông T2 (đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a cá c ông bà V , Y, T1) là: Tài sản gắn liền với d iệ n tí ch đấ t 3.208m2 thuộc thửa 47, 549, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) và diện tích đất 811m2 thuộ c thửa 342, 346, tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R (viế t tắt là tài sản gắn liền với diện tích đất 3.208m2 tọa lạc tại huyệ n T (nay là thị xã X) và 811m2 tọa lạc tại thành phố R) thuộ c quyề n sở hữ u , sử dụ ng củ a vợ chồ ng ông T bà L không chỉ đượ c thế chấ p bả o đả m nợ cho Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 26/01/2011, mà còn đảm bảo nợ cho 02 hợ p đồ ng tí n dụng khác là Hợp đồ ng tí n dụ ng số 6000LAV200904386 ngày 07/12/2009 (viế t tắ t là hợ p đồ ng tín dụng ngày 07/12/2009) và Hợp đồ ng tí n dụ ng số 6000LAV201101538 ngày 20/4/2011 (viế t tắ t là Hợ p đồ ng tín dụng ngày 20/4/2011) hiệ n đang đượ c Tò a án nhân dân thành phố R thụ lý giải quyết. Do đó Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m thố ng nhấ t hoãn phiên tòa, yêu cầ u Ngân hàng N cung cấ p bổ sung thêm cá c tà i liệ u chứ ng cứ có liên quan làm căn cứ giải quyết vụ án.
3. Văn bả n tà i liệ u thể hiệ n quan điể m củ a các bên có liên quan:
- Căn cứ và o cá c tà i liệ u chứ ng của Ngân hàng N cung cấ p cho Tò a á n nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kèm theo “Đơn yêu cầ u” củ a Ngân hàng N đề ngày 13/7/2018 thể hiệ n nộ i dung:
+ Tài sản gắn liề n với diệ n tí ch đấ t 3.208m2 tọa lạc tại huyệ n T (nay là thị xã X) và 811m2 tọa lạc tại thành phố R thuộ c quyề n s ở hữu, sử dụng chung của vợ chồ ng ông T bà L cũng được bảo đảm nợ đối với Hợ p đồ ng tí n dụ ng ngày 07/12/2009 và Hợ p đồ ng tí n dụ ng ngày 20/4/2011 hiệ n đang đượ c Tò a á n nhân dân thành phố R thụ lý giải quyết theo Thông bá o thụ lý giả i quyế t vụ á n số 06/2016/TLST-KDTM ngà y 07/3/2016 chưa giả i quyế t xong.
+ Hiệ n nay Ngân hàng N chỉ yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố R giải quyết buộ c Công ty M phải trả nợ vay của Hợ p đồ ng tí n dụ ng ngà y 07/12/2009 và hợ p đồ ng tín dụng ngày 20/4/2011, mà không yêu cầu xử lý tà i sả n thế chấ p theo 02 hợ p đồ ng tín dụng này đối với tài sản gắn liề n với diệ n tí ch đấ t 3.208m2 tọa lạc tại huyệ n T (nay là thị xã X) và 811m2 tọa lạc tại thành phố R thuộ c quyề n sở hữu, sử dụng chung của vợ chồ ng ông T bà L.
+ Ngân hàng N xác nhận tài sản g ắn liề n v ới diệ n tí ch đấ t 3.208m2 tọa lạc tại huyệ n T (nay là thị xã X ) và 811m2 tọa lạc tại thành phố R thuộ c quyề n s ở hữu, sử dụng của vợ chồ ng ông T bà L là tài sản đảm bảo nợ cho 03 hợp đồ ng tí n dụ ng trong vụ án này , nên trườ ng hợ p nế u Công ty M không trả đượ c nợ của 03 hợ p đồ ng tí n dụng này thì Ngân hàng N đượ c quyề n yêu cầ u bá n đấ u giá các tài sản g ắn liề n v ới diệ n tí ch đấ t 3.208m2 tọa lạc tại huyệ n T (nay là thị xã X) và 811m2 tọa lạc tại thành phố R thuộ c quyề n sở hữu, sử dụng của vợ chồ ng ông T bà L để thu hồ i nợ theo Bản án kinh doanh thương mạ i s ơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R đã tuyên.
+ Ngày 08/8/2016, Ngân hàng N có Quyết định về việc bổ nhiệm lại cán bộ số 438/QĐ- HĐTV-UBNS bổ nhiệ m lạ i chức vụ giá m đố c Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu đố i với ông Trầ n Văn C. Ngày 23/8/2018, Ngân hàng N đã có Quyế t định về việc bổ nhiệ m lạ i cá n bộ số 844/QĐ- HĐTV-UBNS bổ nhiệ m lạ i ch ức vụ Phó giám đố c Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu đố i với ông Hoà ng Lê D.
- Ngày 27/9/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhận được Thông báo không số đề ngày 16/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố R vớ i nộ i dung : Ngày 16/7/2018, Tòa án nhân dân thành phố R đã nhậ n đượ c “Đơn yêu cầ u” của Ngân hàng N đề ngày 13/7/2018 về việ c rút một phần yêu cầu khởi kiện , Ngân hàng N chỉ yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố R giải quyết nợ của Hợp đồ ng tí n dụ ng ngày 07/12/2009 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 20/4/2011, mà không yêu cầu x ử lý tài sản thế chấp kèm theo hai hợp đồng tín dụng này . Vấ n đề nà y sẽ đượ c Tò a á n nhân dân thành phố R xem xé t giả i quyế t trong bản án khi Tòa án nhân dân thành phố R giải quyế t vụ á n thụ lý số 06/2016/TLST-KDTM ngày 07/3/2016.
4. Kế t quả thu thậ p xá c minh trong giai đoạ n phú c thẩ m củ a Tò a á n nhân dân
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu liên quan đế n tà i sả n thế chấ p như sau:
- Căn cứ vào kết quả xác minh tại Công an xã H thể hiệ n, tại thời điể m xé t x ử phúc thẩm hiện nay thì Chi nhánh Vũng Tàu - Công ty S không cò n thuê m ặt bằng của Công ty M để trưng bà y gi ới thiệ u s ửa chữa bả o trì xe ô tô trên diệ n tí ch đấ t 3.208m2 tọa lạc tạ i huyệ n T (nay là thị xã X ) nữa. Tại mặt bằng củ a Công ty M gắn liề n với diệ n tí ch đấ t 3.208m2 tọa lạc ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) Chi nhá nh Vũng Tàu - Công ty S đã gắn biể n thông bá o về việ c di dời về địa điể m mới tọ a lạ c tạ i phườ ng U, thị xã X.
* Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 28/9/2018:
- Ông H (đại diện theo ủy quyền của bà L), ông T2 (đại diện theo ủy quyền của các ông bà V, Y, T1) trình bày và có quan điểm:
+ Các đồng thừ a kế củ a ông T không đồ ng ý trả nợ theo yêu cầ u củ a Ngân hàng N vì ông T không ủ y quyề n cho bà L thế chấ p vay tiề n tạ i Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu nên trong cá c hợ p đồ ng thế chấ p tà i sả n gắ n liề n vớ i Hợp đồ ng tí n dụ n g ngày 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 26/01/2011 đều không có chữ ký của ông T. Mặ t khá c, do trướ c đây Công ty M có đề nghị với Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu đượ c trả nợ tấ t toán đố i vớ i Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụng ngày 26/01/2011 nhưng Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu không chấ p nhậ n, do đó việ c lã i phá t sinh là thuộ c về trá ch nhiệ m củ a Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu, nên các đồng thừa kế của ông T cũng không đồ ng ý trả nợ lã i theo yêu cầ u củ a Ngân hàng N.
+ Việ c Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu không chấ p nhậ n cho Công ty M đượ c trả nợ tất toán đố i vớ i Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngày 26/01/2011 vớ i lý do cá c tà i sả n thế chấ p củ a 02 hợ p đồ ng tí n dụ ng nà y cò n đượ c bả o đả m thanh toá n nợ cho cá c hợ p đồ ng khá c củ a Công ty M tại Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu là không đúng vì các hợp đồng thế chấp là độ c lậ p vớ i nhau, đượ c đả m bả o nợ cho hợ p đồ ng tí n dụ ng nhấ t đị nh và không liên quan đến hợp đồng tín dụng khác.
+ Do tà i sả n thế chấ p là tà i sả n chung củ a vợ chồ ng ông T bà L, ông T không ký các hợp đồng thế chấp nên các hợp đồng thế c hấ p nà y là vô hiệ u , nhưng Tò a á n cấ p sơ thẩ m vẫ n tuyên trườ ng hợ p Công ty M không trả nợ thì Ngân hàng N đượ c quyề n bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ là vi phạm nghiêm trọng tố tụ ng. Do đó đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm h ủy án sơ thẩm giải quyết theo hướng trả lại các tài sản thế chấp cho cá c đồ ng thừ a kế củ a ông T.
- Luậ t sư N bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty M có quan điểm : Đồng ý với quan điểm của ông H (đại diện theo ủy quyề n củ a bà L), ông T2 (đại diện theo ủ y quyề n củ a cá c ông bà V , Y, T1); trong hồ sơ không có quyế t đị nh củ a Ngân hàng N bổ nhiệ m chứ c vụ đố i vớ i ông C, ông D; Ngân hàng N có yêu cầu về lãi và tính lãi không phù hợ p nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.
- Ông D đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N trình bày và có quan điểm:
+ Tài sản thế chấp là tài sản chung của vợ chồ ng ông T bà L. Tại Giấ y ủy quyền ngày 30/01/2008, đượ c công chứ ng chứ ng t hự c số 29, quyể n số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngà y 30/01/2008 thể hiệ n ông T đã ủ y quyề n cho bà L đượ c toà n quyề n thự c hiệ n cá c giao dị ch thế chấ p tài sản để vay tiề n ngân hà ng nên việ c bà L thế chấ p tài sản vay tiề n tại Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu là hợp pháp.
+ Quá trình Công ty M hoạt động kinh doanh đã vay tiền theo nhiề u hợ p đồ ng tí n dụng tại Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu, nên tại Hợ p đồ ng thế chấ p quyề n sử dụ ng đấ t củ a bên thứ ba số 0803388.01/TC1 ngày 30/01/2008 và Điều 2 Hợ p đồ ng thế chấ p quyề n sử dụ ng đấ t và tà i sả n gắ n liề n vớ i đấ t củ a bên thứ ba số
084903-202.15/TC ngày 26/11/2008, Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu và Công ty M cùng với vợ chồng ông T bà L đã thỏ a thuậ n nộ i dung: Vợ chồng ông T bà L thế chấ p tà i sả n là để đả m bảo cho tất cả các khoản nợ theo các hợ p đồ ng tí n dụ ng củ a Công ty M tại Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu.
+ Quá trình Công ty M thế chấ p vay tiề n theo cá c hợ p đồ ng tí n dụ ng tạ i Ngân hàng N Bà Rịa – Vũng Tàu thì có tài sản thế chấ p là động sản (ô tô taxi) và có tài sản thế chấ p là bất động sản . Nhưng quá trì nh thự c hiệ n hợ p đồ ng tí n dụ ng , Công ty M không thự c hiệ n đú ng hợ p đồ ng thế chấ p , đã bá n là m thấ t thoá t tà i sả n thế chấ p là độ ng sả n (ô tô taxi), nên khi Công ty M đề nghị xin được trả nợ tất toán đố i vớ i Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng n gày 26/01/2011 (khi 02 hợ p đồ ng tí n dụ ng nà y chưa hế t thờ i hạ n vay ), để đượ c giải chấp tài sản thế chấp là bất độ ng sả n thì Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu không chấ p nhậ n đề nghị này của Công ty M.
+ Tại phiên tòa phúc thẩm, Ngân hàng N vẫ n giữ nguyên quan điể m trong “Đơn yêu cầ u” ngày 13/7/2018 đã gử i cho Tò a á n nhân dân thành phố R và Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là: Ngân hàng N yêu cầ u Công ty M phải trả nợ theo Hợp đồ ng tí n d ụng ngày 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 26/01/2011, trường hợp nế u Công ty M không trả đượ c nợ thì Ngân hàng N đượ c quyề n yêu cầ u c ơ quan có thẩ m quyề n bá n đấ u giá các tài sản thế chấp của vợ chồ ng ông T bà L như Tò a án cấp sơ thẩ m đã tuyên để thu hồ i nợ. Còn đối với Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 07/12/2009 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 20/4/2011, hiệ n nay Ngân hàng N đang khở i kiệ n Công ty M tại Tòa án nhân dân thành phố R thì Ngân hàng N đã rú t lại một phần yêu cầu là chỉ yêu cầ u Tò a á n nhân dân thành phố R giải quyết phần nợ vay mà k hông yêu cầ u đề nghị xử lý tài sản thế chấp.
Từ cá c lý do trên ông D đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty M, không chấ p nhậ n đơn kháng cáo của bà L và các đồng thừa kế của ông T, giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m.
- Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu có quan điểm : Việ c tuân theo phá p luậ t củ a nhữ ng ngườ i t ham gia tố tụ ng và nhữ ng ngườ i tiế n hà nh tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật ; Về nộ i dung : Căn cứ và o cá c tà i liệ u chứ ng cứ có trong hồ sơ thể hiệ n việ c xé t xử củ a Tò a á n cấ p sơ thẩ m là có căn cứ , phù hợ p vớ i thự c tế khá ch quan nên đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử không chấ p nhậ n khá ng cá o của người kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
Sau khi vụ án được xét xử sơ thẩm vào ngày 27/02/2017, thì cùng ngày 20/3/2017 ông T là người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty M, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì ông T chết vào ngày 08/5/2017, nên Tò a á n nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu đã thông bá o cho Công ty M cung cấ p người đại diện theo pháp luật của Công ty M và thông bá o tìm người thừa kế quyề n và nghĩa vụ tố tụng của ông T theo quy đị nh củ a phá p luậ t . Do đó thành phần những người tham gia tố tụng có sự thay đổi được bổ sung như sau:
- Bị đơn Công ty M: Giám đốc, ngườ i đạ i diệ n theo phá p luậ t của Công ty M là ông Trầ n Minh T (đã chế t). Công ty M chưa là m thủ tụ c thay đổ i ngườ i đạ i diệ n theo pháp luật, nên các cổ đông sáng lập của Công ty M tham gia tố tụ ng là bà Phạm Thị L (vợ ông T) và ông Trần Ngọc V (con ông T).
- Nhữ ng ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan là vợ chồng ông Trầ n Minh T, bà Phạm Thị L: Do ông Trầ n Minh T đã chế t nên ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan là bà Phạm Thị L (vợ ông T) và các đồng thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trầ n Minh T là Trần Ngọc V; Trần Anh T1; Trần Thị Hoàng Y; Trần Thị Mỹ T3.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tống đạt hợp lệ thủ tục xét xử cho: Ông Nguyễ n Trọ ng N 1 và đạ i diệ n Chi nhá nh Vũng Tàu - Công ty S. Nhưng tại phiên tòa xét xử phúc thẩm các đương sự này vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo Công ty M và kháng cáo của bà L cùng các đồng thừa kế của ông T như sau:
1. Kháng cáo Công ty M và kháng cáo của bà L cùng các đồng thừa kế của ông T về thẩm quyền giải quyết: Mặc dù trụ sở của Công ty M ở huyệ n T (nay là thị xã X), nhưng Công ty M vay tiề n tạ i Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu có trụ s ở tại thành phố R, đồ ng thờ i trong số cá c tà i sả n Công ty M thế chấ p vay tiề n tạ i Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu có tài sản tọa lạc tại thành phố R, nên Tòa án nhân dân thành phố R thụ lý giải quyết vụ án tranh chấ p hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N vớ i Công ty M là không vi phạm về thẩm quyền giải quyết như khá ng cá o đã đề cậ p.
2. Kháng cáo Công ty M và kháng cáo của bà L cùng các đồng thừa kế của ông T về việ c quá trì nh giả i quyế t tạ i cấ p sơ thẩ m, ông T bị bệnh nên đã có đơn xin hoãn phiên tòa nhưng Tòa án thành phố R vẫn xét xử: Căn cứ và o bệ nh á n củ a củ a ông T và lời trình bày của ông T2 đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a cá c đồ ng thừ a kế củ a ông T tại phiên tò a phúc thẩm thì quá trình giải quyết sơ thẩm , ông T phát hiện bị bệnh hiểm nghèo (ung thư). Theo quy định của pháp luật thì đươ ng sự có thể trự c tiế p tự mì nh tham gia tố tụ ng hoặ c ủ y quyề n cho ngườ i khá c tham gia tố tụ ng . Do ông T bị bệnh hiể m nghè o (ung thư) không phả i là loạ i bệ nh cấ p tí nh , độ t xuấ t có thể điề u trị ngay và dứt điể m đượ c mà đòi hỏi thời gian điều trị bệnh phải kéo dài, nhưng ông T không trự c tiế p tham gia tố tụ ng đượ c v à cũng không ủy quyền tham gia tố tụ ng cho ngườ i khác, lại xin hoãn phiên tò a nhằ m mụ c đí ch ké o dà i thờ i gian giả i quyế t vụ á n , nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn xin hoãn phiên tò a của ông T, đưa vụ á n ra xét xử là đú ng.
3. Xét t ính hợp pháp của Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất ngày 30/01/2008 và Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba ngày 26/01/2011; tính hợp pháp của Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụng ngày 26/01/2011 như sau:
- Về nguồ n gố c cá c tà i sả n thế chấ p : Căn cứ và o Giấy phép xây dựng tạm số 04/GPXD ngày 11/01/2006 của UBND huyệ n T (nay là thị xã X ); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 951849 ngày 12/4/2005 của UBND thị xã R (nay là thành phố R ); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490638 ngày 28/01/2008 của UBND huyệ n T (nay là thị xã X); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143339 ngày 01/8/1998 của UBND thị xã R (nay là thành phố R); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490637 ngày 28/01/2008 UBND huyệ n T (nay là thị xã X) thì các tài sản gắn liền trên các diện tích đấ t thuộc thửa số 47, 549 tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) và thửa 342, 346 tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R là thuộc quyền sở hữu , sử dụ ng chung hợ p nhấ t của vợ chồng ông T bà L. Ngày 08/5/2017, ông T chết không để lạ i di chú c nên hiệ n nay cá c tà i sả n nà y thuộ c quyề n sở hữ u, sử dụ ng chung củ a bà L và các đồng thừa kế của ông T là Phạm Thị L, Trần Ngọc V; Trần Anh T1; Trần Thị Hoàng Y; Trần Thị Mỹ T3.
- Tư cá ch thế chấ p tà i sả n của bà L:
+ Về loạ i hì nh hoạ t độ ng củ a Công ty M: Công ty M là công ty gia đình, bà L là vợ ông T, ông V là con ông T nhưng đồ ng thờ i bà L và ông V cũng các là thành viên sáng lập của Công ty M.
+ Vì ông T là giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty M, nên khi Công ty M mở tà i khoả n ngân hà ng hoạ t độ ng tạ i Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu và có nhu cầu vay vốn , thì ông T đã ủ y quyề n phầ n tà i sả n riêng củ a ông T trong khố i tà i sả n chung hợ p nhấ t củ a vợ chồ ng vớ i bà L đố i vớ i cá c tà i sả n gắ n liề n trên diệ n tí ch đấ t thuộc thửa số 47, 549 tờ bản đồ 39, tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) và thửa 342, 346 tờ bản đồ 51, tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R cho bà L đượ c toàn quyền thế chấp vay tiền tại ngân hàng , nên bà L có đầy đủ tư cách thay mặt ông T thự c hiệ n cá c giao dị ch thế chấ p tà i sả n cho Công ty M vay tiề n tạ i chính ngân hàng mà Công ty M mở tà i khoả n hoạ t độ ng là Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu. Do đó việ c ông T2, ông H đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a bà L và các đồ ng thừ a kế củ a ông T cho rằ ng, ông T chỉ ủy quyền cho bà L tại ngân hàng mà không ghi cụ thể tại Ngân hàng N Bà Rịa – Vũng Tàu, nên trong hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất ngày 30/01/2008 và Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba ngày 26/01/2011 không có chữ ký củ a ông T do đó các hợp đồng thế chấp này vô hiệu là không có căn cứ pháp luật và không có sức thuyết phục.
+ Trên thự c tế thì việ c bà L đượ c ông T ủy quyền thực hiện các g iao dị ch thế chấ p tà i sả n cho Công ty M vay tiề n tạ i Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu là nhằ m mục đích đả m bảo nợ vay củ a chí nh công ty gia đì nh vợ chồ ng ông T bà L. Đồng thời căn cứ và o cá c khế ướ c nhậ n nợ của Ngân hà ng N Bà R ịa – Vũng Tàu thì Công ty M đã ký nhậ n tiề n vay củ a Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu theo Hợp đồ ng tí n dụ ng ngày 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 26/01/2011. Do đó xé t về hì nh thứ c lẫ n nộ i dung thì việ c ông T ủy quyền tài sản cho bà L thế chấ p đả m bả o nợ vay củ a Công ty M tại Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu là hoàn toàn hợp pháp và phù hợ p vớ i thự c tế khá ch quan.
- Do Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất ngày 30/01/2008 và Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba ngày 26/01/2011 là hợp pháp như đã phân tí ch việ n dẫ n ở trên , nên việ c ông T2 đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a cá c đồ ng thừ a kế củ a ông T không đồ ng ý trả nợ gố c củ a Công ty M đã vay theo Hợp đồ ng tí n dụng ngày 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 26/01/2011 tại Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu là không có căn cứ chấ p nhậ n.
4. Kháng cáo Công ty M và kháng cáo của bà L cùng các đồng thừa kế của ông T về phầ n lã i suấ t:
- Theo nguyên tắ c và trên thự c tế thì tài sản thế chấp củ a hợ p đồ ng tí n dụ ng nà o sẽ đượ c đả m bả o nợ va y cho hợ p đồ ng tí n dụ ng đó . Tuy nhiên do Công ty M hoạt độ ng kinh doanh đã m ở tài khoản giao dịch tại Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tà u. Đồng thời trong suố t quá trình hoạt động kinh doanh thì cùng lúc Công ty M có rất nhiề u khoả n vay (tổ ng cộ ng 19 hợ p đồ ng tí n dụ ng ) tại Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu. Do đó , để thuậ n lợi cho việ c vay vố n củ a Công ty M thì Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu và Công ty M cùng với vợ chồng ông T bà L đã thỏa thuận tại Hợ p đồ ng thế chấ p quyề n sử dụ ng đấ t củ a bên th ứ ba số 0803388.01/TC1 ngày 30/01/2008 và Điề u 2 Hợ p đồ ng thế chấ p quyề n sử dụ ng đấ t và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 084903-202.15/TC ngà y 26/11/2008 là các tài sản thế chấ p là để đảm bảo nợ vay cho tấ t cả cá c hợp đồ ng tí n dụ ng củ a Công ty M (cũng chí nh là khoả n nợ vay của gia đì nh vợ ch ồng ông T bà L) tại Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu, nên thỏ a thuậ n này không vi phạm điều cấm của pháp luật . Bên cạ nh đó thì, theo quy đị nh củ a phá p luậ t thì trong trườ ng hợ p vay không có bả o đả m và bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, thì tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụ ng củ a bên vay vẫ n có thể bị kê biên, bán đấu giá để đảm bảo và thanh toán nợ cho bên cho vay. Do đó , quan điể m củ a ông T2, ông H đại diện theo ủy quyền của bà L và các đồ ng thừa kế củ a ông T cho rằng các tài sản thế chấ p là cho hợ p đồ ng tí n dụ ng độ c lậ p mà không liên quan đế n cá c khoả n vay khác của Công ty M tại Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu là không phù hợp với quy đị nh củ a phá p luậ t và thự c tế khá ch quan.
- Quá trình Công ty M thế chấ p vay tiề n theo cá c h ợp đồ ng tí n dụ ng tạ i Ngân hàng N Bà Rịa – Vũng Tàu thì có tài sản thế chấ p là độ ng sả n (ô tô taxi) và có tài sản thế chấ p là bấ t độ ng sả n. Nhưng trên thự c tế quá trình thực hiệ n hợp đồ ng tí n dụ ng và quản lý tà i sả n thế chấ p, Công ty M đã không thực hiệ n đúng các thỏa thuận trong hợp đồ ng thế chấ p. Cụ thể là Công ty M đã bán gây thấ t thoá t tà i sả n thế chấ p là độ ng sả n (ô tô taxi), làm ảnh hưởng đến việc thanh toán và thu hồi nợ của Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu. Do đó , khi Công ty M đề nghị xin đượ c trả nợ tấ t toá n đố i với Hợp đồ ng tín dụng ngày 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngày 26/01/2011 (khi 02 hợ p đồ ng tín dụng này chưa hế t thời hạ n vay), để đượ c giả i chấ p các tài sản thế chấp là bất độ ng sản thì Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu không chấ p nhậ n đề nghị này của Công ty M là biệ n phá p cầ n thiế t để đảm bảo các khoản nợ vay của Công ty M tại Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu. Do đó ông T2, ông H đại diện theo ủy quyền của bà L và các đồ ng thừa kế củ a ông T cho rằng việ c Công ty M không trả đượ c nợ củ a Hợp đồ ng tín dụng ngày 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 26/01/2011 làm lãi phát sinh tăng cao là thuộ c về trá ch nhiệ m củ a Ngân hà ng N Bà Rị a – Vũng Tàu là không đúng.
5. Mộ t số hạ n chế của bản án sơ thẩm liên quan đế n tài sản thế chấ p và nghĩa vụ bảo lãnh đố i vớ i các tài sản thế chấp:
- Vì mục đích của việc thế chấp tài sản tại ngân hàng là
để đảm bảo n ợ vay, trường hợp nế u bên vay không trả đượ c nợ thì ngân hàng đượ c quyề n yêu cầ u bá n đấ u giá tài sản thế chấp để thu hồ i nợ, do đó về nguyên t ắc thì tà i sả n thế chấ p phả i đượ c giữ nguyên hiệ n trạ ng tại thời điể m thế chấ p. Tuy nhiên quá trì nh th ực hiệ n hợp đồ ng tín dụng và quản lý tài sản thế chấp thì vợ chồ ng ông T bà L đã cho thuê tà i sả n thế chấ p như sau:
+ Vợ chồ ng ông T bà L cho Chi nhá nh Vũ ng Tà u - Công ty S thuê mặt bằng trên diệ n tí ch đấ t thuộ c th ửa 47, 549, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H để trưng bà y gi ới thiệ u sửa chữa bả o trì xe ô tô . Quá trình giải quyết s ơ thẩ m, đại diện Chi nhánh Vũng Tàu - Công ty S đã trì nh bà y và có quan điể m: Khi thuê mặt bằng trên diệ n tí ch đấ t thuộ c thửa 47, 549, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X), thì Chi nhánh Vũng Tàu - Công ty S đã đặt cọc cho ông T bà L 96.000.000đ và đầu tư nhiề u chi phí để cải tạo nâng cấp các hạng mục trên đất, nên sau khi vụ án được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, thì Công ty S xin được tiếp tục thuê mặt bằng nà y. Nhưng Tò a á n cấ p sơ thẩ m không hướng dẫ n cho Chi nhá nh Vũ ng Tàu - Công ty S làm thủ tục để đượ c xem xé t giả i quyế t vấ n đề nà y trong cù ng mộ t vụ án là có thiếu sót , đồ ng thờ i lại nhậ n đị nh rằng Chi nhá nh Vũ ng Tà u - Công ty S không có đơn yêu cầ u độ c lậ p, nên nế u sau nà y Chi nhá nh Vũ ng Tà u - Công ty S có yêu cầ u giả i quyế t tranh chấ p , thì sẽ đượ c giả i quyế t trong mộ t vụ á n khá c , là không đảm bảo tí nh toà n diệ n , đầ y đủ và tính có liên quan sẽ ả nh h ưởng đến giai đoạn thi hành án, là nguyên nhân dẫ n đế n bả n á n khó thi hành . Tuy nhiên sau khi xé t x ử sơ thẩ m, các đương sự đều không khá ng cá o vấ n đề này, đồng thời căn cứ vào kết quả xác minh tại Công an xã H cho thấ y tạ i th ời điể m xé t xử phúc thẩm hiện nay thì Chi nhánh Vũng Tàu - Công ty S không cò n thuê mặt bằng trên diệ n tí ch đấ t 3.208m2 tọa lạc tại huyệ n T (nay là thị xã X ) của Công ty M nữa, tại m ặt bằng nà y Chi nhá nh Vũng Tàu - Công ty S đã treo biển di d ời địa điể m trưng bà y giới thiệ u sửa chữa bả o trì xe ô tô sang địa chỉ mới tọ a lạ c tạ i phườ ng U, thị xã X. Do đó nguy cơ có thể ả nh hưở ng đến việc thi hà nh á n đố i với bả n á n củ a Tò a á n đã có hiệu l ực phá p luậ t là không cò n.
+ Vợ chồ ng ông T bà L cho ông N1 thuê mộ t phầ n m ặt bằng trên diệ n tí ch đấ t thuộ c thửa 342, 346 tọa lạc tại phườ ng Y làm Garage Auto – N1 từ tháng 3/2016 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm , Tòa án nhân dân thành phố R cũng không thự c hiệ n cá c biệ n phá p thu th ập giải quyết vấn đề này v à cũng cho rằng ông N1 không có đơn yêu cầ u độ c lậ p nên nế u sau nà y ông N1 có yêu cầu giải quyết tranh chấ p hợ p đồ ng thuê mặ t bằ ng liên quan đế n tà i sả n thế chấ p thì sẽ đượ c giả i quyế t trong mộ t vụ á n khá c , là ảnh hưởng đến tính toàn diện của bản á n và giai đoạ n thi hành bản án . Tuy nhiên căn cứ vào “Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ” ngày 05/10/2016 (BL 185) của Tòa án nhân dân thành phố R thể hiệ n quá trì nh thuê m ặt bằng của vợ chồ ng ông T bà L, thì ông N1 có đầ u tư đặ t mộ t phò ng sơn hấ p sấ y đượ c đóng sẵn, cơ độ ng, có thể di dời đi nơi khá c dễ dà ng. Nên vấ n đề nà y không cần đặ t ra để giải quyết vì không ả nh hưởng đến việ c thi hà nh á n đố i với bả n á n củ a Tò a á n đã có hiệu lực phá p luậ t.
- Căn cứ và o cá c tà i liệ u chứ ng cứ có trong hồ sơ và tạ i phiên tò a phú c thẩ m cá c bên đương sự đã thừ a nhậ n là các tài sản gắn liề n trên cá c diệ n tí ch đấ t thuộc các thửa 47, 549 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã H, huyệ n T (nay là thị xã X) và thửa 342, 346 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R là thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ chồ ng ông T bà L không chỉ đả m bả o nợ vay củ a Công ty M tại Ngân hà ng N Bà Rịa – Vũng Tàu theo Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 30/01/2008 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngày 26/01/2011, mà các tài sản này còn được đảm bảo nợ vay cho 02 hợ p đồ ng tí n dụng khác là Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 20/4/2011 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 07/12/2009 đã đượ c Tò a á n nhân dân thành phố R có Thông bá o thụ lý bổ sung số 01/2015/TB-TLVA và o ngà y 12/8/2015, nhưng trong phầ n quyế t đị nh củ a Bản án kinh doanh thương mạ i s ơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R chỉ giải quyết trườ ng hợ p Công ty M không trả đượ c nợ củ a 03 hợp đồ ng tí n dụ ng trong vụ á n nà y thì Ngân hàng N đượ c quyề n yêu cầ u bá n đấ u giá các tài sản thế chấp để thu hồi nợ , mà không đề cậ p gì đến Hợp đồng tí n dụ ng ngà y 20/4/2011 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 07/12/2009 là có thiếu sót về tố tụ ng và nộ i dung. Tuy nhiên quá trình giải quyết phúc thẩm , căn cứ và o “Đơn yêu cầ u” ngà y 13/7/2018 của Ngân hàng N đã gử i cho Tò a á n nhân dân thành phố R và Tòa án nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu, đồ ng thờ i tại phiên tò a phú c thẩ m ông D đạ i diệ n theo ủy quyền của Ngân hàng N có quan điểm chỉ yêu cầ u Công ty M phải trả nợ theo 03 hợp đồ ng tí n dụ ng trong vụ án này, trường hợp nế u Công ty M không trả đượ c nợ của 03 hợ p đồ ng tí n dụ ng nà y thì Ngân hàng N đượ c quyề n yêu cầ u c ơ quan có thẩ m quyề n bá n đấ u giá 04 tài sản thế chấp của v ợ chồ ng ông T bà L như Tòa án cấp s ơ thẩ m đã tuyên để thu hồ i n ợ. Đối với Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 07/12/2009 và Hợp đồ ng tí n dụ ng ngà y 20/4/2011 hiệ n nay Ngân hàng N đang khởi kiệ n Công ty M tại Tòa án nhân dân thành phố R, thì Ngân hàng N đã rút một phần yêu cầu là chỉ yêu cầ u Tòa án nhân dân thành phố R giải quyết phần nợ vay mà không yêu cầ u đề nghị xử lý tài sản thế chấ p. Như vậ y phầ n thiế u só t về tố tụ ng và nộ i dung này của Bản án kinh doanh thương mạ i s ơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R đã bị triệ t tiêu.
+ Quá trình thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng , Tòa án cấp sơ thẩ m không thu thậ p cá c quyế t đị nh bổ nhiệ m chứ c vụ cá n bộ củ a Ngân hàng N làm căn cứ xá c đị nh việ c ủ y quyề n củ a Ngân hàng N là hợp lệ là có thiếu sót như Luậ t sư N bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty M đã nêu. Nhưng quá trì nh giả i quyế t phú c thẩ m, Ngân hàng N đã cung cấ p bổ sung cá c quyế t đị nh nà y, do đó đã có căn cứ để xá c đị nh thủ tục ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng N là đúng theo quy định của pháp luật.
Mặ c dù mộ t số thiế u só t củ a bả n á n sơ thẩ m đã đượ c khắ c phụ c , nhưng Hộ i đồ ng xét xử phúc thẩ m đề nghị Tò a á n cấ p sơ thẩ m cầ n rú t kinh nghiệ m đố i vớ i cá c vấ n đề trên.
Do thà nh phầ n nhữ ng ngườ i tham gia tố tụ ng thay đổ i , nên Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m thố ng nhấ t không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a Công ty M, không chấ p nhậ n khá ng cáo của bà L và những người kế thừ a quyề n và nghĩ a vụ củ a ông T, giữ nguyên bả n án sơ thẩm về phần nội dung , sử a bá n á n sơ thẩ m về hì nh thứ c đố i vớ i tư cá ch tham gia tố tụ ng củ a cá c đương sự .
Về á n phí kinh doanh thương mạ i phúc thẩm: Sau khi xé t xử sơ thẩ m thì bị đơn Công ty M kháng cáo và đã nộ p tiề n tạ m ứ ng á n phí kinh doanh thương mạ i phú c thẩ m 2.000.000đ; ngườ i có quyề n lợ i liên quan là vợ chồ ng ông T bà L đều có đơn kháng cáo riêng và mỗ i ngườ i đều đã nộ p tiề n tạ m ứ ng á n phí kinh doanh thương mạ i phúc thẩm là 2.000.000đ. Do ông T bà L là vợ chồng , có địa vị tố tụng chung và không có quyề n và lợ i ích hợp pháp đố i khá ng vớ i nhau, nên bà L và những người kế thừ a quyề n và nghĩ a vụ củ a ông T chỉ phải chịu chung án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định . Bà L không phả i chị u riêng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm độc lập.
Vì các lẽ trên:
QUYẾ T ĐỊ NH
Áp dụng khoản 3 Điề u 296; khoản 2 Điề u 308 Bộ luậ t Tố tụng dân sự , tuyên xử :
Không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a Công ty Cổ phầ n M ; không chấ p nhậ n khá ng cáo của bà Phạm Thị L và những người kế thừ a quyề n nghĩa vụ tố tụng của ông Trầ n Minh T là Phạm Thị L, Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mạ i s ơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R về phầ n nộ i dung, sửa mộ t phầ n Bản án kinh doanh thương mạ i s ơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố R về hì nh thức đố i với tư cách tham gia tố tụng của các đương sự như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N Việt Nam về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với Công ty Cổ phần M. Buộc Công ty Cổ phần M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N Việt Nam tổng số nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/02/2017 theo cá c hợ p đồ ng tí n dụ ng là 11.543.751.667đ (Mười một tỷ, năm trăm bốn mươi ba triệu, bảy trăm năm mươi mốt ngàn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 5.257.000.000đ (Năm tỷ, hai trăm năm mươi bảy triệu đồng), nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 6.286.751.667đ (Sáu tỷ, hai trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi mốt ngàn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Công ty Cổ phần M phải tiếp tục chịu lãi suấ t đố i vớ i số nợ gố c phát sinh kể từ ngày 28/02/2017 theo mứ c lã i s uấ t đượ c thỏ a thuậ n trong các hợp đồng tín dụng cho đế n khi tấ t toá n xong nợ gố c . Trườ ng hợ p Công ty Cổ phần M không trả đượ c nợ , thì Ngân hàng N Việt Nam đượ c quyề n yêu cầ u cơ quan Thi hà nh á n d ân sự thành phố R bán đấu giá các tài sản đã thế chấp theo các hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Cụ thể nợ gố c, nợ lã i và các tài sản thế chấp theo các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp như sau:
1.1. Đối với Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-200802891 (0803388.00001/HĐTD) ngày 30/01/2008:
- Công ty Cổ phần M có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng N Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng số
6000-LAV-200802891 (0803388.00001/HĐTD) ngày 30/01/2008 là: 473.000.000đ (Bốn trăm bảy mươi ba triệu đồng) tiề n gốc và nợ lã i tính đến ngày 27/02/2017 gồ m: Nợ lãi trong hạn là 390.496.528đ (Ba trăm chín mươi triệu, bốn trăm chín mươi sáu ngàn, năm trăm hai mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn là 163.901.875đ (Một trăm sáu mươi ba triệu, chín trăm lẻ một ngàn, tám trăm bảy mươi lăm đồng).
- Công ty Cổ phần M phải tiếp tục trả lãi phát sinh đố i vớ i số nợ gố c từ ngày 28/02/2017 cho Ngân hàng N Việt Nam cho đến khi tấ t toá n xong nợ gốc theo mứ c lãi suấ t thỏa thuận trong H
ợp đồng tín dụng số
6000-LAV-200802891 (0803388.00001/HĐTD) ngày 30/01/2008.
1.2. Đối với Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100420 ngày 26/01/2011:
- Công ty Cổ phần M có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng N Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100420 ngày 26/01/2011 là: 2.792.000.000đ (Hai tỷ, bảy trăm chín mươi hai triệu đồng) tiề n gốc và n ợ lãi tính đến ngày 27/02/2017 gồ m: Nợ lãi trong hạn là 2.420.108.125đ (Hai tỷ, bốn trăm hai mươi triệu, một trăm lẻ tám ngàn, một trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn là 952.352.951đ (Chín trăm năm mươi hai triệu, ba trăm năm mươi hai ngàn, chín trăm năm mươi mốt đồng).
- Công ty Cổ phần M phải tiếp tục trả lãi phát sinh đố i với số n ợ gố c từ ngày 28/02/2017 cho Ngân hàng N Việt Nam cho đến khi tấ t toá n xong nợ gốc theo mứ c lã i suấ t thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100420 ngày 26/01/2011.
1.3. Đối với Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100706 ngày 01/3/2011:
- Công ty Cổ phần M có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng N Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100706 ngày 01/3/2011 là 1.992.000.000đ (Một tỷ, chín trăm chín mươi hai triệu đồng) tiề n gốc và nợ lãi tính đến ngày 27/02/2017 gồ m: Nợ lãi trong hạn là 1.697.572.569đ (Một tỷ, sáu trăm chín mươi bảy triệu, năm trăm bảy mươi hai ngàn, năm trăm sáu mươi chín đồng), nợ lãi quá hạn là 662.319.618đ (Sáu trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm mười chín ngàn, sáu trăm mười tám đồng).
- Công ty Cổ phần M phải tiếp tục trả lãi phát sinh đố i với số n ợ gố c từ ngày 28/02/2017 cho Ngân hàng N Việt Nam cho đến khi tấ t toá n xong nợ gốc theo mứ c lã i suấ t thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6000-LAV-201100706 ngày 01/3/2011.
1.4. Trường hợp Công ty Cổ phần M không trả được nợ theo cá c Hợ p đồ ng tí n dụng số 6000-LAV-200802891 (0803388.00001/HĐTD) ngày 30/01/2008; Hợ p đồ ng tín dụng số 6000-LAV-201100420 ngày 26/01/2011; Hợ p đồ ng tí n dụ ng số 6000-LAV-201100706 ngày 01/3/2011 thì Ngân hàng N Việt Nam đượ c quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự bán đấu giá tài sản đã thế chấp theo Hợ p đồ ng thế chấ p quyề n sử dụ ng đấ t củ a bên thứ ba số 0803388.01/TC1 ngày 30/01/2008; Hợ p đồ ng thế chấ p tà i sả n gắ n liề n vớ i đấ t số 0803388.01/TC2 ngày 30/01/2008; Hợ p đồ ng thế chấ p quyề n sử dụ ng đấ t và tà i sả n gắ n liề n vớ i đấ t củ a bên thứ ba số
084903-202.15/TC ngà y 26/11/2008 để thu hồi nợ là:
- Cửa hàng ô tô được xây dựng trên thửa đất số 549, tờ bản đồ số 39 tại ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Giấy phép xây dựng tạm số 04/GPXD ngày 11/01/2006 của UBND huyệ n T (nay là thị xã X ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp cho Công ty Cổ phần M.
- Tài sản vật kiến trúc gắn liền với diệ n tí ch đất 936m2 (trong đó đất ở NT 200m2 + đất CD 376m2 + CLN 438m2) thuộc thửa số 549 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490637 do UBND huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 28/01/2008 cho bà Phạm Thị L , ông Trần Minh T (nay là cá c đồ ng thừ a kế quyề n và nghĩ a vụ củ a ông Trần Minh T là Phạm Thị L, Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3).
- Tài sản vật kiến trúc gắn liền với diệ n tí ch đất 2.272m2 (trong đó đất ở NT 300m2 + đất CD 1.574m2 + CLN 398m2) thuộc thửa số 47 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp P, xã H, huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 490638 do UBND huyệ n T (nay là thị xã X), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 28/01/2008 cho bà Phạm Thị L , ông Trần Minh T (nay là cá c đồ ng thừ a kế quyề n và ngh ĩa vụ của ông Trần Minh T là Phạm Thị L, Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3).
- Tài sản vật kiến trúc gắn liền với diệ n tí ch đất 457,9m2 (300m2 đất thổ cư + 157,9m2 đất nông nghiệp) thuộc thửa số 342 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143339 do UBND thị xã R (nay là thành phố R ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 01/8/1998 cho ông Trần Minh T (nay là cá c đồ ng thừa kế quyề n và nghĩ a vụ của ông Trần Minh T là Phạm Thị L , Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3).
- Tài sản vật kiến trúc gắn liền với diệ n tí ch
đất 353,1m2 (100m2 đất ODT + 253m2 HNK) thuộc thửa số 346 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phườ ng Y, thành phố R, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 951849 do UBND thị xã R (nay là thành phố R ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 12/4/2005 cho bà Phạm Thị L, ông Trần Minh T (nay là cá c đồ ng thừa kế quyề n và nghĩ a vụ củ a ông Trần Minh T là Phạm Thị L , Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3).
2. Về chi phí thẩm định tài sản: Công ty Cổ phần M phải hoàn trả cho Ngân hàng N Việt Nam 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
3. Án phí kinh doanh thương mại:
3.1 Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty Cổ phần M phải nộp 119.543.000đ (Một trăm mười chín triệu, năm trăm bốn mươi ba ngàn đồng).
- Ngân hàng N Việt Nam đượ c hoàn trả lại 58.155.000đ (Năm mươi tám triệu, một trăm năm mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 024273 ngày 16/12/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố R.
3.2. Án phí kinh doanh thương mại phú c thẩm:
- Công ty Cổ phần M phải nộp 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng ) án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, khấ u trừ và o 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng) tiề n tạ m ứ ng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm Công ty Cổ phần M đã nộ p gồ m: 200.000đ (hai trăm ngà n đồ ng ) theo Biên lai thu tạ m ứ ng á n phí , lệ phí t òa án số 0004253 ngày 21/03/2017 và 1.800.000đ (mộ t triệ u, tám trăm ngàn đồng ) theo Biên lai thu tạ m ứ ng án phí , lệ phí tòa án số 0004326 ngày 11/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố R. Như vậ y Công ty Cổ phần M đã nộ p xong án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
- Bà Phạm Thị L và các đồ ng thừa kế quyề n và nghĩ a vụ củ a ông Trần Minh T là Phạm Thị L , Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3 phải nộp 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng ) án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, khấ u trừ vào 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng ) tiề n tạ m ứ ng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm ông Trầ n Minh T đã nộ p gồ m: 200.000đ (hai trăm ngà n đồ ng ) theo Biên lai thu tạm ứng án phí , lệ phí tòa án số 0004252 ngày 21/03/2017 và 1.800.000đ (mộ t triệ u, tám trăm ngàn đồng ) theo Biên lai thu tạ m ứ ng á n phí , lệ phí tòa án số 0004324 ngày 11/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố R. Như vậ y bà Phạm Thị L và các đồ ng thừa kế quyề n và nghĩ a vụ củ a ông Trần Minh T là Phạm Thị L, Trần Ngọc V, Trần Anh T1, Trần Thị Hoàng Y, Trần Thị Mỹ T3 đã nộ p xong án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
- Bà Phạm Thị L đượ c hoà n trả lạ i 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng) tiề n tạ m ứ ng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộ p, cụ thể là được hoàn trả lại 200.000đ (hai trăm ngà n đồ ng) theo Biên lai thu tạ m ứ ng á n phí , lệ phí tòa án số 0004254 ngày 21/03/2017 và 1.800.000đ (mộ t triệ u, tám trăm ngàn đồ ng) theo Biên lai thu tạ m ứ ng án phí, lệ phí t òa án số 0004325 ngày 11/4/2017 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố R.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu l
ực phá p luậ t kể t ừ ngày tuyên án (ngày 02/10/2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh BR-VT; -TAND thành phố R; -Chi cục THADS thành phố R; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Quang |