- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/HSST Ngày: 20-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vi Văn Tiên
2. Bà Hà Thị Xinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vy Thị Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 20/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Anh T, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1982 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Khối H, thị trấn T, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Triệu Th và bà Phan Thị Nh; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu xử 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Chưa có; Bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2017 cho đến nay; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Triệu Th. Sinh năm: 1954. Trú tại: Khối H, thị trấn T, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 09 giờ ngày 06/12/2017, Trần Anh T đi xe máy từ nhà lên địa bàn huyện Quế Phong để tìm mua Heroin về sử dụng. Tại địa bàn huyện Quế Phong thì T hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy thì T chia thành 03 gói nhỏ và sử dụng 01 gói. 02 gói còn lại thì T cất dấu trong người và đi về nhà. Khi về đến địa bàn bản K, xã C, huyện Quỳ Châu thì bị lực lượng Công an huyện Quỳ Châu phát hiện, bắt quả tang thu giữ 02 gói chất bột màu trắng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, BKS 37L5-4803.
Tại bản Kết luận giám định số 57/KL-PC54(MT) ngày 10/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu chất bột màu trắng thu của Trần Anh T gửi tới giám định là đều chất ma túy (Heroin) và có tổng trọng lượng là 0,15g.
Ngoài ra, cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳ Châu không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho Trần Anh T nên không có cơ sở để xử lý.
Cáo trạng số 13/VKS-HS ngày 26/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ông Trần Triệu Th trình bày: Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BKS 37L5-4803 được ông Th mua lại của ông Sầm Văn Ch vào tháng 02/2017. Khi mua thì có kèm theo Giấy đăng ký xe mô tô mang tên Sầm Văn Ch. Vào sáng ngày 06/12/2017, con trai ông là Trần Anh T có mượn chiếc xe máy nói trên để đi công việc riêng, đến chiều cùng ngày thì ông biết là T bị Công an huyện Quỳ Châu bắt vì hành vi tàng trữ ma túy và tạm giữ cả chiếc xe máy. Việc T mượn xe của ông để sử dụng thì ông không biết là T dùng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, ông T đề nghị được nhận lại chiếc xe máy và không yêu cầu T phải bồi thường gì.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy số Heroin và trả lại chiếc xe máy BKS 37L5-4803 cho ông Trần Triệu Th.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào sáng ngày 06/12/2017, bị cáo điều khiển xe máy BKS 37L5-4803 lên địa bàn huyện Quế Phong để mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua được ma túy thì bị cáo sử dụng một ít, số còn lại thì cất vào người và điều khiển xe máy đi về nhà. Khi về đến địa bàn bản K, xã C, huyện Quỳ Châu thì bị Công an huyện Quỳ Châu bắt giữ, thu giữ 02 gói nhỏ Heroin và 01 chiếc xe máy.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Năm 2006, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến năm 2014 tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”. Ngày 06/12/2017, bị cáo lại phạm tội mới do cố ý. Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 49 BLHS 1999, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Anh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 điều 194 BLHS 1999 đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung và Heroin nói riêng là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy nhưng bị cáo không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử và đi cải tạo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, tu dưỡng, rèn luyện bàn thân mà nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ biết ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015 để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Mặt khác, theo quy định của khoản 2 điều 249 BLHS 2015 thì có mức hình phạt tù quy định từ 05 năm đến 10 năm (nhẹ hơn so với khoản 2 điều 194 BLHS 1999). Cần áp dụng khoản 3 điều 7 BLHS 2015 và hướng dẫn tại Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao để áp dụng điểm o khoản 2 điều 249 BLHS 2015 đối với bị cáo.
[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã thu giữ của bị cáo 0,15g Heroin; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BKS 37L5-4803 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Sầm Văn Ch.
Đối với số Heroin sau khi trích 0,045g gửi đi giám định, còn lại 0,105g cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe máy và Giấy đăng ký xe mô tô mang tên Sầm Văn Ch là tài sản hợp pháp của ông Trần Triệu Th, cần trả lại cho chủ sở hữu.
[2.5] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015. Xử phạt Trần Anh T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2017.
- Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,105g Heroin; Trả lại cho ông Trần Triệu Th 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BKS 37L5-4803 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Sầm Văn Ch (Tất cả có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 13 giờ 40 phút ngày 27/3/2018 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dan sự huyện Quỳ Châu)
- Căn cứ vào điều 136 BLTTHS. Buộc Trần Anh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND; Công an; THADS H.Quỳ Châu - Bị cáo; Người có QLNVLQ - Phòng KTNV-TAND tỉnh Nghệ An - Lưu HSVA | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |