- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phương Văn L và Triệu Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phương Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/HSST Ngày 29-6-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Hoàng Thị Ngoan.
2. Ông: Nông Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2018/HSST ngày 19/6/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2018/QĐXXST-HS ngày 19/6/2018 đối với các bị cáo:
Phương Văn L, sinh ngày 04/9/198x.
Sinh trú quán: Xóm BT, xã ML, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phương Văn V và bà Nông Thị T; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang, từ ngày 28/4/2018 đến nay. Có mặt.
Triệu Văn H, sinh ngày 28/8/19xx.
Sinh trú quán: Xóm ĐT, xã ML, huyện HL, Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Quang L và bà Ngọc Thị N; Vợ: Nông Thị H; Con: Có 01 con sinh năm 201x.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang, từ ngày 04/5/2018 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo Phương Văn Lập và Triệu Văn Hường: Ông Nông Văn D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
Người làm chứng:
Hoàng Văn T, sinh năm 198x, nơi cư trú: Xóm BL, xã ĐL, huyện HL, Cao Bằng.
La Văn Ch, sinh năm 198x, nơi cư trú: Xóm BS, xã ĐL, huyện HL, Cao Bằng.
Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ ngày 28/4/2018, Tổ công tác Đồn biên phòng Cửa khẩu Lý Vạn, đang làm nhiệm vụ tại khu vực ĐT, ML, HL, phát hiện Phương Văn L có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện L tàng trữ 01 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng nắm ở bàn tay phải. Đấu tranh tại chỗ L khai nhận số chất bột màu trắng là ma túy vừa mua bên Trung Quốc với giá 700 NDT, tương đương 2.200.000đ ( Hai triệu hai trăm nghìn đồng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Sony, màn hình cảm ứng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mastel loại bàn phím và 01 xe máy nhãn hiệu HonDa Wave RSX màu đen, BKS 11R1 – 153x, số khung RLHSC 432x và số máy BY 19922x đã qua sử dụng.
Ngày 01 tháng 5 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hạ Lang tiến hành mở niêm phong và cân xác định trọng lượng số ma túy thu giữ của Phương Văn L có trọng lượng tịnh là 2,06g( hai phẩy không sáu gam) và tách lấy mẫu gửi giám định. Tại Kết luận giám định số: 82/GĐMT ngày 16/05/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định vụ án Phương Văn L là chất ma túy, loại: Heroine.
Tại cơ quan điều tra Lập khai nhận: Khoảng 14 giờ, ngày 28/4/2018 đã điều khiển xe máy BKS 11R1 -153x từ nhà sang Trung Quốc mua ma túy với Triệu Văn H, với giá 700NDT tương đương 2.200.000đ. Mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Qua lời khai của L, ngày 04/5/2018 Công an huyện Hạ Lang đã ra lệnh bắt H để điều tra. Quá trình bắt, khám xét chỗ ở thu giữ của H 01 điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Sam Sung màn hình cảm ứng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar và số tiền 1.100.000đ.
Tại Cơ quan điều tra Triệu Văn H khai nhận: Do nghiện ma túy nên thường xuyên qua Trung Quốc mua ma túy với một người đàn ông tên là Sòng ở Thôn Nà Nhại, trấn Thạch Long, huyện Đại Tân, Quảng Tây, Trung Quốc để sử dụng và được ông Sòng thuê bán lẻ ma túy cho các con nghiện tại đất Trung Quốc để kiếm lời. Ngày 28/4/2018, H được bán ma túy cho anh L với số tiền là 700.NDT tương đương 2.200.000đ. Trước khi bị bắt, H đã bán ma túy cho những người sau:
Bán cho Hoàng Văn T 03 lần, cụ thể: Ngày 26/04/2018 bán 01 tép với giá 70.000đ; ngày 27/4/2018 bán 01 tép với giá 100.000đ; ngày 28/4/2018 bán 02 tép ma túy với giá 200.000đ. Ngày 27/4/2018 bán cho La Văn Ch 01 tép với giá 100.000đ. Ngoài ra H còn được bán cho nhiều đối tương nghiện khác nhưng không biết tên và địa chỉ.
Về các tài sản khác liên quan đến vụ án bị thu giữ lúc bắt, xác định được:
- Số tiền 1.100.000đ do H bốc vác mà có; 01 điện thoại màu trắng nhãn hiệu Sam Sung màn hình cảm ứng, H dùng để liên lạc mua bán ma túy; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mobiistar là của H dùng để liên lạc hằng ngày. 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Sony, màn hình cảm ứng L nhặt được bên đất Trung Quốc; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mastel loại bàn phím, L dùng để liên lạc hằng ngày; 01 xe máy BKS 11R1 – 153x, số khung RLHSC 432x và số máy BY 19922x L đứng tên chủ sở hữu, nguồn tiền mua xe do bố mẹ cho L.
Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSHL ngày 19/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố Phương Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và Triệu Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Triệu Văn H; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Phương Văn L. Xử phạt bị cáo H từ 07 đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo L từ 12 đến 24 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số Heroine thu giữ của L; trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel loại bàn phím và 01 xe máy cho Phương Văn L. Trả số tiền 1.100.000đ và 01 điện thoại nhãn hiệu Mobiistar cho Triệu Văn H. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại màu trắng nhãn hiệu Sam Sung màn hình cảm ứng của H và 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Sony, màn hình cảm ứng của L.
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sống ở vùng biên giới, trước khi phạm tội là công dân tốt Trong quá trình tố tụng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, nếu L không khai ra H thì hiện nay H còn tại ngoại và tiếp tục bán ma túy cho các con nghiện người Việt Nam. Ngoài ra bố bị cáo H là người có công với cách mạng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. H được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Các bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, không có ý kiến bổ sung, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần và số tiền mua bán ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Do nghiện ma túy, nên ngày 28/4/2018 Phương Văn L sang Trung Quốc mua ma túy với Triệu Văn H với giá 2.200.000đ, khi quay về Việt Nam đến đoạn ĐT - ML thì bị bắt. Số ma túy bị thu giữ của L có trọng lượng 2,06g (hai phẩy không sáu gam), được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận là chất ma túy, loại Heroine. Mục đích L mua ma túy về để sử dụng. Qua lời khai của L, Công an huyện Hạ Lang đã tiến hành bắt Triệu Văn H để điều tra. Trước khi bị bắt, H nhiều lần bán ma túy cho Hoàng Văn T, La Văn Ch, Phương Văn L và nhiều đối tượng nghiện khác. Mỗi lần bán từ 100.000đ - 200.000đ, lần nhiều nhất bán cho Phương Văn L ngày 28/4/2018 với giá 2.200.000đ.
Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, heroine là chất gây nghiện, hủy hoại nghiêm trọng sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, tàng trữ trái phép ma túy ngày càng gia tăng hiện nay, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã có đầy đủ năng lực và nhận thức để biết được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, nhưng đã bất chấp để thực hiện. Đối với Phương Văn L, khi bị bắt đang tàng trữ trái phép 2,06g ma túy để sử dụng, nên phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Triệu Văn H đã bán ma túy nhiều lần cho rất nhiều người, mỗi lần bán đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, nên H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố và đề nghị mức án đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình tố tụng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cả hai được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với đề nghị của người bào chữa, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng: Chính từ khai của L, cơ quan điều tra đã tiến hành bắt Triệu Văn H và chứng minh được H là người đã bán ma túy cho L và nhiều người khác. Qua đó, giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm mới và kịp thời ngăn chặn việc H tiếp tục bán ma túy cho nhiều đối tượng nghiện là người Việt Nam. Vì vậy, đề nghị cho bị cáo L được hưởng tình tiết quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Ngoài ra, bố bị cáo L là người có công với cách mạng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo H, lời khai không giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm mới và đã được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên đề nghị cho bị cáo H hưởng tình tiết quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không có căn cứ.
. Về vật chứng: Số heroine thu giữ thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại màu trắng nhãn hiệu Sam Sung màn hình cảm ứng của H dùng để liên lạc mua bán ma túy và 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Sony, màn hình cảm ứng L nhặt được của rơi, không xác định được chủ sở hữu, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại này. 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím của Phương Văn L; số tiền 1.100.000đ và 01 điện thoại màu xám bạc nhãn hiệu Mobiistar của Triệu Văn H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo. Đối với 01 xe máy thu giữ của L, nguồn tiền mua xe này từ bố mẹ bị cáo mà có và không phải phương tiện thường xuyên dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo L.
. Về án phí: Bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hạ Lang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Triệu Văn H.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Phương Văn L.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phương Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt Triệu Văn H 07 (bẩy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 04/5/2018.
- Xử phạt Phương Văn L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 28/4/2018.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì, mặt trước ghi “vật chứng thu giữ của Phương Văn L bắt ngày 28/4/2018”.
- Tịch thu, nộp sung quỹ Nhà nước gồm: 01 điện thoại màu trắng nhãn hiệu SamSung màn hình cảm ứng của Triệu Văn H và 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Sony, màn hình cảm ứng của Phương Văn L.
- Trả cho bị cáo L: 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím và 01 xe máy BKS 11R1 – 153x, số khung RLHSC 432x và số máy BY 19922x có 01 chìa khóa.
- Trả lại cho bị cáo H: Số tiền 1.100.000đ và 01 điện thoại màu xám bạc nhãn hiệu Mobiistar, loại cám ứng.
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang theo biên bản giao nhận ngày 25/6/2018.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Triệu Văn H và Phương Văn L mỗi người phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện (02 bản); - Chi cục THA huyện; - UBND xã ML (bằng thông báo); - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thanh Lù Mã Thị Độ Nông Văn Tùng | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nông Văn Tùng |