vanban.org

Bản án 12/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang Tuyên án 27/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh T theo Quyết định tạm giam ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng xét xử sơ thẩm Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hìn…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HS-ST
Ngày 27 - 4 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĂC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Tư

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đàm Thuyên

Ông Phạm Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuyến, Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 4 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2018/TLST - HS ngày 07 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-HS ngày 13/4/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1981 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn A, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1946 và bà Lê Thị C, sinh năm 1948; vợ con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 30/11/2017, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Quang. Có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Chí L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ 6, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt có lý do.

Người làm chứng: Anh Phan Quốc V, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ 5, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 10 phút ngày 30/11/2017, tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang bắt quả tang Phan Quốc V, sinh năm 1986, trú tại tổ 5, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi kiểm tra đã thu giữ được của Phan Quốc V 01 (một) gói nhỏ bên ngoài được gói bằng giấy bạc, bên trong được gói bằng giấy màu trắng xanh, trong cùng có chứa chất bột màu trắng (được ký hiệu B1) và tạm giữ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET CRUZE LS, biển kiểm soát 22A-00312 màu sơn vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ ngoài màu vàng. Quá trình lập biên bản, Phan Quốc V khai gói nhỏ đã thu giữ là chất ma tuý Heroine, do V mua của Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981, cư trú tại thôn T, xã H, huyện B với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nhằm mục đích để sử dụng.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang ra lệnh khám xét khẩn cấp trên người, nơi ở và đồ vật của Nguyễn Thanh T. Quá trình khám xét đã thu giữ trên người của Nguyễn Thanh T 01 (một) gói giấy nilon màu hồng có chứa chất bột màu trắng (được ký hiệu M1); Nguyễn Thanh T tự nguyện giao nộp 21 gói giấy nilon, bên trong có chứa chất bột màu trắng (Trong đó có 05 (năm) gói được gói bằng giấy nilon màu hồng, ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5; 07 (bảy) gói được gói bằng giấy màu xanh trắng, ký hiệu A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12; 09 (chín) gói được gói bằng giấy trắng, ký hiệu A13, A14, A15, A16, A17, A18, A19; A20, A21); ngoài ra còn thu giữ tại tại gầm giường ngủ của Nguyễn Thanh T 01 (một) gói giấy nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng, được ký hiệu A22; 01 (một) gói giấy nilon màu trắng, bên trong được gói bằng giấy trắng xanh, trong cùng có chứa chất bột màu trắng, được ký hiệu A23; thu giữ trong tủ đựng quần áo 01 (một) gói giấy nilon màu hồng, bên trong được gói bằng giấy màu nâu, trong cùng có chứa chất bột màu trắng được ký hiệu A24; tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, lắp sim số thuê bao 0974877341, cũ đã qua sử dụng

Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T khai nhận: Do không có công ăn việc làm và thấy trên địa bàn nơi T sinh sống có nhiều người nghiện ma túy nên T đã nảy sinh ý định mua ma túy về để bán kiếm lời. Khoảng 09 giờ sáng ngày 25/11/2017 T bắt xe khách sang thành phố T, khi đến bến xe khách của thành phố T lúc đó khoảng 15 giờ chiều, T có gặp một người đàn ông lái xe ôm (không biết tên tuổi, địa chỉ) và hỏi: "Anh có hàng không bán cho em?", người đàn ông đó hỏi lại:"Mua bao nhiêu?" T trả lời: "Mua hai triệu năm trăm nghìn đồng", người đàn ông đó nhất trí và bảo T đứng ở đó chờ, khoảng 20 phút sau người đàn ông đó quay lại và bảo T đưa tiền, sau khi nhận số tiền 2.500.000đ, người đàn ông đưa cho T 01 gói được gói bằng loại giấy bạc của bao thuốc lá, T cầm và mở ra thấy bên trong có chứa chất ma túy hêrôin, sau đó T cất gói ma túy vào túi quần rồi bắt xe khách về nhà. Đến khoảng 08 giờ, ngày 26/11/2017 T lấy gói ma túy đó ra và chia thành 26 gói nhỏ rồi cất giấu vào phòng ngủ của T để nhằm mục đích bán kiếm lời.

Vào khoảng 11 giờ, ngày 30/11/2017 T đang ở nhà thì có Phan Quốc V, sinh năm 1986, trú tại tổ 5, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang có gọi điện thoại từ số 0985.524.569 đến số điện thoại của T là 0974.877.314 với nội dung "Anh để cho em một cái chơi" và nói là mua 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), T có nói lại với V "Khi nào xuống thì gọi điện cho anh", khoảng 15 phút V điện thoại cho T và nói là đang ở khu vực Thôn A, xã H, huyện B. Sau khi nghe điện thoại xong, T cầm 01 gói nhỏ chất ma túy mà T đã chia sẵn trước đó đi bộ ra chỗ V đứng chờ, khi gặp nhau V đưa cho T số tiền 200.000đ và T đưa cho V 01 gói nhỏ chất ma túy được gói bằng giấy bạc của bao thuốc lá rồi T đi về nhà. Còn V cầm gói ma túy ra xe ô tô để chuẩn bị mang đi sử dụng thì bị Công an huyện Bắc Quang phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật.

Ngày 01/12/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang đã tiến hành cân tịnh số bột màu trắng đã thu giữ của Phan Quốc V và Nguyễn Thanh T, kết quả như sau:

+ 01(Một) gói nhỏ chất bột màu trắng, ký hiệu B1 thu giữ của Phan Quốc V có trọng lượng là 0,04 gam.

+ 01(Một) gói nhỏ chất bột màu trắng, ký hiệu M1 thu giữ của Nguyễn Thanh T có trọng lượng là 0,08 gam.

+ 24 (Hai mươi bốn) gói nhỏ chất bột màu trắng, đặt ký hiệu từ A1 đến A24 (ký hiệu M2) thu giữ của Nguyễn Thanh T có trọng lượng như sau: Gói ký hiệu A1 có trọng lượng là 0,04 gam; gói ký hiệu A2 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A3 có trọng lượng là 0,05 gam; gói ký hiệu A4 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A5 có trọng lượng là 0,04 gam; gói ký hiệu A6 có trọng lượng là 0,04 gam; gói ký hiệu A7 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A8 có trọng lượng là 0,04 gam; gói ký hiệu A9 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A10 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A11 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A12 có trọng lượng là 0,04 gam; gói ký hiệu A13 có trọng lượng là 0,02 gam; gói ký hiệu A14 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A15 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A16 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A17 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A18 có trọng lượng là 0,03 gam; gói ký hiệu A19 có trọng lượng là 0,04 gam; gói ký hiệu A20 có trọng lượng là 0,04 gam; gói ký hiệu A21 có trọng lượng là 0,02 gam; gói ký hiệu A22 có trọng lượng là 0,02 gam; gói ký hiệu A23 có trọng lượng là 0,05 gam; gói ký hiệu A24 có trọng lượng là 0,02 gam. Trọng lượng chất bột màu trắng của 24 gói là 0,79 gam.

Tổng trọng lượng chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét nhà Nguyễn Thanh T là 0,87 gam (Không phẩy tám mươi bảy gam)

Ngày 04/12/2017 Cơ quan cảnh sát đều tra Công an huyện Bắc Quang đã ra Quyết định trưng cầu giám định số bột màu trắng đã thu giữ của Phan Quốc V và Nguyễn Thanh T.

Tại Kết luận giám định số: 6156/C54 (TT2) ngày 25/12/2017 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục Cảnh sát kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng trong niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy; loại: Heroine

- Mẫu chất bột màu trắng trong niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; loại: Heroine

- Mẫu chất bột màu trắng trong 24 (Hai mươi bốn) gói giấy ký hiệu từ A1 đến A24 (niêm phong ký hiệu M2) gửi giám định đều là ma túy; loại: Heroine

Như vậy tổng trọng lượng chất ma túy loại: Heroine Nguyễn Thanh T đã bán cho Phan Quốc V và tàng trữ để nhằm mục đích bán kiếm lời là 0,91 gam.

Với hành vi trên, tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSBQ ngày 06/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 194, các Điều 33, 45; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng máy cũ đã qua sử dụng, mặt sau bị vỡ, viền máy bị trầy xước.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong bởi 05 dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ công an, một mặt có ghi "BỘ CÔNG AN - TỔNG CỤC CẢNH SÁT PCTP số: 6156/C54 (TT2) Mẫu vật hoàn trả sau giám định "; 01 sim số thuê bao 0985.524.569, số sê ri 89840488831007159608 (lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG); 01 sim số thuê bao 0974.877.341, số sê ri 8984048008825441261 (lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu iphone)

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với tội danh và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội.

Bị cáo lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa những lỗi lầm, sớm trở về với gia đình làm người công dân tốt, có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên của huyện Bắc Quang trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét và thu giữ vật chứng; biên bản xét chất ma túy trong nước tiểu; biên bản mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu vật chứng gửi giám định và Kết luận giám định số: 6156/C54 (TT2) ngày 25/12/2017 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát cùng tài liê ̣u khác có trong hồ sơ vụ án, đã xác định tổng trọng lượng Hêrôin bị cáo đã mua về để bán với mục đích kiếm lời là 0,91gam, nên có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất gây nghiện, hành vi phạm tội của bị cáo còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác, gây mất trật tự trị an xã hội và gây ra sự bất bình trong trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do lối sống đua đòi, coi thường pháp luật các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử lý bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng có tình tiết giảm nhẹ đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải. Ngoài ra, trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo cũng cung cấp bản sao chứng thực huân chương kháng chiến hạng ba của ông Nguyễn Chí T và Huy chương kháng chiến hạng nhất của bà Lê Thị C là bố mẹ đẻ của bị cáo đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này ra bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Do đó mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, nên cũng được xem xét khi áp dụng mức hình phạt, để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo

Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này bị cáo là đối tượng nhiễm HIV/ADIS, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Phan Quốc V là người mua ma túy của Nguyễn Thanh T về sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Tuy nhiên số lượng ma túy thu giữ được của Phan Quốc V là 0,04 gam, chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự, ngày 23/1/2018 Công an huyện Bắc Quang đã ra Quyết định xử phạt hành chính Phan Quốc V với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) là phù hợp quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe ô tô cơ quan Công an đã thu giữ của anh Vũ Chí L, do Phan Quốc V tự ý sử dụng, quá trình điều tra do không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L là hoàn toàn có căn cứ.

Đối với số vật chứng đã thu giữ trong vụ án còn lại, cần căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử lý như sau:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng máy cũ đã qua sử dụng, mặt sau bị vỡ, viền máy bị trầy xước.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong bởi 05 dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ công an, một mặt có ghi "BỘ CÔNG AN - TỔNG CỤC CẢNH SÁT PCTP số: 6156/C54 (TT2) Mẫu vật hoàn trả sau giám định"; 01 sim số thuê bao 0985.524.569, số sê ri 89840488831007159608 (lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG); 01 sim số thuê bao 0974.877.341, số sê ri 8984048008825441261 (lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu iphone)

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 33, 45 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, 135, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 3, Điều 6 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2017.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh T theo Quyết định tạm giam ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng xét xử sơ thẩm Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng máy cũ đã qua sử dụng, mặt sau bị vỡ, viền máy bị trầy xước.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong bởi 05 dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ công an, một mặt có ghi "BỘ CÔNG AN - TỔNG CỤC CẢNH SÁT PCTP số: 6156/C54 (TT2) Mẫu vật hoàn trả sau giám định"; 01 sim số thuê bao 0985.524.569, số sê ri 89840488831007159608 (lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG); 01 sim số thuê bao 0974.877.341, số sê ri 8984048008825441261 (lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu iphone)

Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang ngày 13 tháng 3 năm 2018.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án sao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ