- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Th - Tàng trữ vật liệu nổ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều…"
- Tòa quyết gì? luật Tố tụng Hình sự,
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 232 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/HS-PT Ngày 27 tháng 02 năm 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.
Các Thẩm phán:
- Bà Lê Thúy Phượng;
- Ông Trần Văn Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Nhơn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 222/2017/TLPT-HS
ngày 29 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T, do có kháng cáo của bị
cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 217/2017/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm
2017 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: Tý Đ), sinh năm 1982, tại: N, Khánh Hòa;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 47B đường C, phường V, thành phố N, tỉnh
Khánh Hòa; chỗ ở: Tổ 11 S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề
nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đ và bà Trần Thị Hồng T; có
vợ và có 02 người con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ từ ngày 20 tháng 5 năm 2017.
Được Viện kiểm sát nhân dân thành phố N hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày
22 tháng 5 năm 2017.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: :
Nguyễn Quốc T sinh sống bằng nghề làm biển, có nhu cầu sử dụng thuốc nổ
để đánh cá. Ngày 19 tháng 5 năm 2017, T chuẩn bị một số vật liệu dùng chế tạo quả nổ đánh cá cất giấu trên ghe của mình, gồm: dây nilon, túi nilon, giấy bao xi măng cùng với 04 kg thuốc nổ. Sáng ngày 20 tháng 5 năm 2017, T thuê Nguyễn Phương K, Nguyễn Văn H, Phạm L, Nguyễn Văn S đi đánh cá cho T nhưng không cho họ biết dự định sử dụng thuốc nổ để đánh cá.
Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 20 tháng 5 năm 2017, khi T đang chuẩn bị cho
ghe xuất bến thì bị tổ tuần tra Đồn biên phòng C – Bộ đội biên phòng tỉnh Khánh Hòa kiểm tra. Nguyễn Quốc T và Nguyễn Phương K vứt 02 túi nilon màu đen chứa thuốc nổ xuống biển. Sau đó, Nguyễn Phương K và Nguyễn Văn H cùng nhảy xuống biển bỏ trốn. Lực lượng tuần tra Đồn biên phòng C kịp thời thu giữ tang vật mà đối tượng vứt xuống biển và đưa T, K, L, S về trụ sở làm việc.
Tại Kết luận giám định số 255/GĐTP/2017 ngày 23 tháng 5 năm 2017,
Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa xác định: Mẫu vật gửi giám định là chất nổ nhũ tương (thuốc nổ amonit dẻo) được sản xuất công nghiệp, đặc tính chịu nước tốt.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 217/2017/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2017,
Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 232; các Điểm g, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46
Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép
vật liệu nổ”.
- Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật
chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 21 tháng 11 năm 2017, bị cáo Nguyễn Quốc T kháng cáo đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa
đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999, giữ nguyên mức phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo Nguyễn Quốc T kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định,
nên kháng cáo bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Quốc T đã khai nhận những hành vi
mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng trong vụ án và các chứng cứ khác do Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 20 tháng 5 năm 2017, bị cáo Nguyễn Quốc T đã có hành vi tàng trữ
trái phép 4 kg chất nổ nhũ tương trên ghe đánh cá của bị cáo. Hành vi đó của
Nguyễn Quốc T đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vật
liệu nổ” được quy định tại Khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm an toàn
công cộng, nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là có căn cứ.
Tuy nhiên, xét toàn diện vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Bị cáo
có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại các phiên tòa sơ
thẩm, phúc thẩm đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa
gây thiệt hại; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, không cần cách ly xã hội cũng
đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355 và Điểm e Khoản 1 Điều 357 của Bộ
1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 232; các Điểm g, p Khoản 1 Điều 46; Điều 60 của
Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T (tên gọi khác: Tý Đ),
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (một) năm tù, cho bị cáo được hưởng án
treo, về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”; thời gian thử thách là 02 (hai) năm,
tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27 tháng 02 năm 2018).
Giao bị cáo Nguyễn Quốc T cho Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố N,
tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Quốc T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Bị cáo Nguyễn Quốc T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27
tháng 02 năm 2018).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - TAND thành phố N; - VKSND thành phố N; - Công an thành phố N; - Chi cục THA dân sự thành phố N; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |