vanban.org

Bản án 12/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 02/02/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/02/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HS-PT
Ngày: 02-02-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên t a: Ông Trương Văn Lộc.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng;

Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng.

Thư ký T a án ghi biên bản phiên t a: Bà Lê Thị Hiền – Thư Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên t a: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên t a phúc thẩm công hai xét xử vụ án hình sự thụ l số 202/2017/HSPT ngày 13 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị H cùng đồng phạm. Do có háng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Thị Ánh Ng, Phạm Thị T, Phan Thị K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 215/2017/HS-ST ngày 03 tháng 11 năm 2017 của T a án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

1 H và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1963, tại tỉnh Bình Dương. Hộ hẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tạm trú: Số 12 10, khu 2, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Dân tộc: Kinh; trình độ h c v n: 01 12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Trần Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị S (chết); Chồng: Phạm Thành N, sinh năm 1961 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1988. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10 5 2017 đến ngày 19 5 2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng c m đi hỏi nơi cư trú; có mặt.

2 H và tên: Trần Thị Ánh Ng, sinh năm 1969, tại tỉnh Bình Dương. Hộ hẩu thường trú: Số 12 26, Khu 3, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Dân tộc: Kinh; trình độ h c v n: 3 12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không. Con ông Trần Văn S (chết) và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1949; Chồng: Nguyễn Minh H, sinh năm 1971, có 04 con lớn nh t sinh năm 1986, nhỏ nh t sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10 5 2017 đến ngày 19 5 2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng c m đi hỏi nơi cư trú; có mặt.

3 H và tên: Phạm Thị Tr (tên g i hác: Gái bé), sinh năm 1973, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hộ hẩu thường trú: Số 24 1, p 4, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số 48 53, Khu 3, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Dân tộc: Kinh; trình độ h c v n: 9 12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không. Con ông Phạm Văn H (chết) và bà Lê Thị S (chết); Chồng: Phan Kỳ P, sinh năm 1965, có 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10 5 2017 đến ngày 19 5 2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng c m đi hỏi nơi cư trú; có mặt.

4 H và tên: Phan Thị K, sinh năm 1975, tại tỉnh Bình Dương. Hộ hẩu thường trú: Số 56 20, khu 8, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Dân tộc: Kinh; trình độ h c v n: 12 12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không. Con ông Phan Thành L (chết) và bà Trần Thị V, sinh năm 1953; chồng: Trần Thanh C, sinh năm 1964 (đã ly hôn), có 03 con (lớn nh t sinh năm 2005, nhỏ nh t sinh năm 2009). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo Đỗ Văn Th, Nguyễn Thị Bé Th, Hồ Thanh T, Đỗ Thị Y, Đặng Thị Mỹ H do hông có háng cáo và hông bị háng nghị nên T a án hông triệu tập.

NỘI D NG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 10 5 2017, Đỗ Văn T đem 01 bộ dụng cụ dùng để lắc tài xỉu gồm 03 hột xí ngầu, 01 dĩa sành và 01 nắp nhựa hình trụ màu đen đến hu đ t trống bên cạnh quán cà phê Bin Bo địa chỉ tại tổ 35, khu 5, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để chơi lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền. Đến hoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, Đỗ Thị Y, Nguyễn Thị Bé T, Hồ Thanh T, Phan Thị K, Đặng Thị Mỹ H, Nguyễn Thị H, Phạm Thị T và Trần Thị Ánh N đến quán cà phê Bin Bo uống nước thì nghe hách ngồi uống nước tại đây nói hu đ t trống bên cạnh quán có s ng bạc lắc tài xỉu nên Y, Th, T, Kiều, H, H2, Tr và Ng đến chơi lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền, c n H hông chơi tụ riêng mà chơi é tụ của Y. Hình thức thắng thua như sau: Con bạc làm cái sử dụng 03 hột xí ngầu (mỗi hột xí ngầu có 06 mặt, mỗi mặt được đánh d u từ 01 ch m đến 06 ch m) đặt trên dĩa sành và dùng nắp nhựa đậy lại rồi lắc, các con bạc (là tụ con) ch n tài hoặc xỉu để tính thắng thua với con bạc làm cái. Th là người làm cái và quy định với các con bạc tham gia: T là hi tổng số ch m trên 03 hột xí ngầu là từ 11 trở lên; Xỉu là tổng số ch m trên 03 hột xí ngầu từ 10 trở xuống. Th dùng số tiền 1.600.000 đồng, T dùng số tiền 12.300.000 đồng, Th dùng số tiền 4.500.000 đồng, Tr dùng số tiền 1.020.000 đồng, Ng dùng số tiền 400.000 đồng, K dùng số tiền 700.000 đồng, Y dùng số tiền 550.000 đồng, H dùng số tiền 100.000 đồng và Hoa dùng số tiền 100.000 đồng đem theo để đánh bạc. Th, Y, Th2, T, K, H, H2, Tr và Ng đánh bạc đến hoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, thì bị Công an thành phố T bắt quả tang. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 22.270.000 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 215 2017 HS-ST ngày 03/11/2017, Tòa án nhân dân thành phố T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phan Thị K, Nguyễn Thị H, Phạm Thị Tr, Trần Thị Ánh Ng phạm tội Đánh bạc .

Áp dụng hoản 1 Điều 248; điểm h, p hoản 1, hoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được h u trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10 5 2017 đến ngày 19/5/2017.

Áp dụng hoản 1 Điều 248; điểm h, p hoản 1, hoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Trần Thị Ánh Ng 03 (ba) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được h u trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10 5 2017 đến ngày 19/5/2017.

Áp dụng hoản 1 Điều 248; điểm h, p hoản 1 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tr 03 (ba) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án được, h u trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10 5 2017 đến ngày 19 5 2017.

Áp dụng hoản 1 Điều 248; điểm h, p hoản 1, hoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm x hoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Phan Thị K 03 (ba) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Bản án sơ thẩm c n xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé Th 02 (hai) năm tù, các bị cáo Đỗ Văn Th, Hồ Thanh T 09 (chín) tháng tù, bị cáo Đỗ Thị Y 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Đặng Thị Mỹ H 07 (bảy) tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm c n tuyên về xử l vật chứng, án phí và quyền háng cáo theo quy định.

Ngày 13 11 2017, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn háng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 06 11 2017, bị cáo Trần Thị Ánh Ng có đơn háng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền.

Ngày 07 11 2017, bị cáo Phan Thị K có đơn háng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền.

Ngày 13 11 2017, bị cáo Phạm Thị Tr có đơn háng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền.

Đơn háng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định.

Tại phiên t a phúc thẩm bị cáo H thay đổi nội dung đơn háng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền.

Tại phiên t a phúc thẩm, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương thể hiện như sau:

Về tố tụng: Các bị cáo háng cáo bản án trong thời gian quy định nên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm để xem xét giải quyết háng cáo của các bị cáo là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.

Về yêu cầu háng cáo của các bị cáo: Xác định tội danh, điều luật T a án c p sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Thị Tr, Trần Thị Ánh Ng, Phan Thị K phạm tội Đánh bạc theo hoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. T a án c p sơ thẩm xử phạt các bị cáo H, Tr, Ng, K 03 (ba) tháng tù là chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Sau hi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị H đã có đơn háng cáo xin hưởng án treo nhưng tại phiên t a phúc thẩm bị cáo H thay đổi nội dung đơn háng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền, các bị cáo Tr, Ng, K có đơn háng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền, đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận háng cáo của các bị cáo về phần hình phạt chuyển sang hình phạt tiền. Sửa Bản án sơ thẩm số 215/2017/HS-ST ngày 03/11 2017 của T a án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Thị Ánh Ng, Phạm Thị Tr, Phan Thị K nói lời nói sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có điều iện làm, chăm lo cho gia đình. Các bị cáo xin được chuyển sang hình phạt tiền.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào ngày 10/5/2017, tại hu đ t trống bên cạnh quán cà phê Bin Bo địa chỉ tổ 35, khu 5, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Thị Tr, Trần Thị Ánh Ng, Phan Thị K đã cùng các bị cáo Đỗ Văn T, Nguyễn Thị bé Th, Hồ Thanh T, Đỗ Thị Y, Đặng Thị Mỹ H đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu, với tổng số tiền dùng đánh bạc là 22.270.000đ (hai mươi hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố thực hiện, thể hiện thức xem thường pháp luật. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật. Như vậy, T a án c p sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Thị Ánh Ng, Phạm Thị Tr, Phan Thị K về tội Đánh bạc theo hoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử nhận th y các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Thị Ánh Ng, Phạm Thị Tr, Phan Thị K tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền, số tiền mà các bị cáo tham gia đánh bạc hông lớn, các bị cáo chỉ giữ vai tr đồng phạm hông phải là người hởi xướng đánh bạc. Khi xét xử các bị cáo đã thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng. Do đó, có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, hông cần thiết phải cách ly các bị cáo ra hỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo cũng như thể hiện sự hoan hồng của pháp luật. Do đó, háng cáo của các bị cáo được ch p nhận.

Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử ch p nhận.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu háng cáo của các bị cáo H, Ng, Tr, K, nên các bị cáo hông phải nộp.

Các phần hác của quyết định án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực pháp luật, ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Vì các lẽ trên;

Q YẾT Đ NH:

Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 355 và điểm đ hoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1/ Ch p nhận yêu cầu háng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Thị Ánh Ng, Phạm Thị Tr, Phan Thị K; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 215/2017/HS-ST ngày 03/11 2017 của T a án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; về hình phạt đối với các bị cáo:

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, hoản 2 Điều 46; Điều 53; Điều 30 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng về tội Đánh bạc .

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tr số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng về tội Đánh bạc .

Xử phạt bị cáo Trần Thị Ánh Ng số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng về tội Đánh bạc .

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, hoản 2 Điều 46; Điều 53; Điều 30 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm x hoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Thị K số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng về tội Đánh bạc .

2 Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo H, Ng, Tr, K hông phải nộp.

3/ Các phần hác của quyết định án sơ thẩm hông có háng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án. .

[

Cỡ chữ