- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa bà T và ông R"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu T về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn R.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST Ngày: 02/02/2018 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Huy Cƣờng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Nhuận.
2. Ông Huỳnh Anh Tài.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Bƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Hƣơng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 1414/2017/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐST - HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2018, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thu T, sinh năm 1970; hộ khẩu thƣờng trú: 319/9, Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh A; tạm trú: Nhà trọ N, số nhà A, tổ 6, khu phố H, phƣờng T, thị xã T, tỉnh B.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1972; hộ khẩu thƣờng trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh A; tạm trú: Nhà trọ N, số nhà N, khu phố H, phƣờng T, thị xã T, tỉnh B.
Các đƣơng sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng nguyên đơn bà Bùi Thị Thu Thủy trình bày:
Bà T và ông R tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh A vào ngày 08/05/1998, theo giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 10.
Sau khi kết hôn bà T và ông R đến tỉnh Bình Dƣơng làm ăn và sinh sống. Khoảng 02 năm đầu sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhƣng từ khi bà T sinh con thì ông R thay đổi tính nết, không phụ giúp kinh tế cho gia đình mà còn đánh bạc gây nợ nần. Thời gian gần đây nhất là vào khoảng tháng 7/2017 ông R đánh bạc thua tiền, chủ nợ đến đòi nợ và xiết xe mô tô của ông R. Ngoài ra ông R thƣờng xuyên uống rƣợu. Từ tháng 7/2017 đến nay bà T và ông R sống ly thân. Bà T xác định cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không còn hết tình cảm với ông R và yêu cầu đƣợc ly hôn.
Trong quá trình chung sống bà T và ông R có 01 con chung Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 13/11/2000, sau khi ly hôn bà T yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu N và không yêu cầu ông R cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn – ông Nguyễn Văn R trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày của bà T về thời gian, điều kiện kết hôn. Thời gian qua ông R có uống rƣợu, tham gia đánh bạc gây nợ nần nhƣng ông R đã tự trả gần hết nợ, 04 tháng nay ông R không đánh bạc nữa mà tự đi làm kiếm tiền để trả nợ. Bà T trình bày ông R không có trách nhiệm lo cho gia đình là không đúng, tiền lƣơng hàng tháng ông R trả tiền thuê nhà và mua thức ăn hàng ngày. Ông R thừa nhận mình có lỗi trong việc hôn nhân đổ vỡ, nhƣng xác định còn tình cảm với bà T. Nay ông R mong bà T cho ông thêm cơ hội để sửa chữa những sai lầm của mình và không đồng ý ly hôn với bà T.
Tại phiên tòa: Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ông R giữ nguyên ý kiến của mình, ngoài ra ông R trình bày trong trƣờng hợp phải ly hôn thì ông R đồng ý để cho bà T đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu Nguyễn Thị Yến N và ông R không cấp dƣỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Bà T khởi kiện ông R yêu cầu đƣợc ly hôn, ông R hiện đang cƣ trú tại phƣờng T, thị xã T, tỉnh B. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà T và ông R tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định nên xác định quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Bà T xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc thời gian ngắn. Khoảng năm 2002 phát sinh mâu thuẫn do ông R tham gia đánh bạc không quan tâm đến gia đình vợ con, từ tháng 7/2017 đến nay vợ chồng sống ly thân, bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông R. Ông R thống nhất lời trình bày của bà T về nguyên nhân mâu thuẫn do ông ham mê cờ bạc không làm tròn trách nhiệm ngƣời chồng, ngƣời cha. Nhƣng từ khi sống ly thân đến nay thì ông R đã tích cực làm ăn và trả nợ. Ông xác định vẫn còn tình cảm với bà T nên không đồng ý ly hôn.
Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông R có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông R chơi cờ bạc dẫn đến bị nợ nần, không chăm lo cho gia đình vợ con. Bản thân ông R cũng thừa nhận mình có lỗi nên vợ mới xảy ra mâu thuẫn. Mặt khác, bà T và ông R đã sống ly thân khoảng 06 tháng nhƣng cả hai đều không thể tự hòa giải để gia đình đoàn tụ, thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc đến nhau thể hiện mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T đƣợc ly hôn với ông R.
Về con chung: Bà T và ông R có 01 con chung là Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 13/11/2000. Bà T yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu N và không yêu cầu ông R cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, hiện cháu N đang sống cùng bà T , nguyện vọng của cháu vẫn muốn đƣợc sống cùng mẹ. Để đảm bảo cho cuộc sống của cháu đƣợc ổn định, môi trƣờng sống và giáo dục lành mạnh nên cần giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dƣỡng. Mặt khác, tại phiên tòa ông R trình bày trƣờng hợp vợ chồng ly hôn thì đồng ý giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dƣỡng. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà T là có căn cứ chấp nhận. Bà Thủy không yêu cầu ông R đóng góp nuôi con là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu T về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn R.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thu T đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn R.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 13/11/2000 cho bà Bùi Thị Thu T trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông R cấp dƣỡng nuôi con.
Các đƣơng sự có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết
2. Về án phí: Bà Bùi Thị Thu T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0018148 ngày 27/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Các đƣơng sự; - Lƣu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Huy Cường |