- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị B và Nguyễn Trung T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH L Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST Ngày: 03/4/2018 V/v: "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH LONG AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Diệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lâm Thị Kim Xuyến.
2/ Bà Trần Thị Ngọc Anh.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lệ – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.
Ngày 02/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Lxét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 137/2017/TLST-HNGĐ ngày 14/12/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 09/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21/02/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà B, sinh năm 1990; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 02/17, đường Huỳnh Việt Thanh, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: Số 19/24, đường Thiên Hộ Vương, khu phố 3, phường 2, thị xã K, tỉnh L(có mặt).
- Bị đơn: Ông T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 02/17, đường Huỳnh Việt Thanh, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh L(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/3/2018 và những lời trình bày của nguyên đơn bà B có trong hồ sơ và tại phiên tòa như sau:
Năm 2008, bà với ông T quen biết với nhau. Ngày 08/12/2009, hai người làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mộc Hóa cũ (nay là phường 1, thị xã K), tỉnh Long An. Thời gian đầu ông bà sống chung với nhau đầm ấm và hạnh phúc nhưng từ tháng 5 năm 2016 đến nay, bà và ông T bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do ông bà không hòa hợp với nhau về cách sống và cách suy nghĩ, ông bà thường hay bất đồng quan điểm và xảy ra cãi vã thường xuyên. Ông bà đã sống ly thân nhau từ tháng 5 năm 2016 đến nay. Bà sống cùng cha mẹ ruột ở số 19/24, đường Thiên Hộ Vương, khu phố 3, phường 2, thị xã K, tỉnh L ông Tín vẫn ở số 02/17, đường Huỳnh Việt Thanh, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh Long An. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn lại được.
Trong thời gian chung sống ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Kim sinh ngày 29/11/2011 và cháu H, sinh ngày 04/5/2012. Từ khi ông bà sống ly thân đến nay, hai con sống chung với bà. Nay bà yêu cầu những vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là cháu Ksinh ngày 29/11/2011 và cháu H, sinh ngày 04/5/2012 đến khi 02 con chung tròn 18 tuổi và không yêu cầu ông Tín có nghĩa vụ phải cấp dưỡng con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà cho rằng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Tín không có lời khai trong hồ sơ.
NHẬN THẤY CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 02/17, đường Huỳnh Việt Thanh, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh Lnên Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Lthụ lý vụ án là đúng quy định về thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn ông T không có lời khai trong hồ sơ và không có mặt trong phiên xét xử ngày hôm nay nhưng đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các lần hòa giải ngày 14/12/2017, ngày 28/12/2017 và Quyết định xét xử ngày 04/12/2017 và quyết định hoãn phiên tòa ngày 12/3/2018 nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Năm 2008, ông bà quen biết với nhau. Ngày 08/12/2009, hai người làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mộc Hóa cũ (nay là phường 1, thị xã K), tỉnh Long An. Thời gian đầu, ông bà sống chung với nhau đầm ấm và hạnh phúc nhưng từ tháng 5 năm 2016 đến nay, ông bà bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yêu do ông bà không hòa hợp với nhau về cách sống và cách suy nghĩ, ông bà thường hay bất đồng quan điểm và xảy ra cãi vã thường xuyên. Ông bà đã sống ly thân nhau từ tháng 5 năm 2016 đến nay nên Hội đồng xét xử xét thấy:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Hai ông bà mâu thuẫn với nhau thời gian dài từ tháng 5 năm 2016 đến nay, hai ông bà cũng đã sống ly thân hơn hai năm nay. Ông Tín cũng không thể hiện ý chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà Bích sống cùng cha mẹ ruột ở số 19/24, đường Thiên Hộ Vương, khu phố 3, phường 2, thị xã K, tỉnh L ông Tín vẫn ở số 02/17, đường Huỳnh Việt Thanh, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh Long An. Xét thấy tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bích với ông Tín.
[5] Về con chung: Hai ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Kim, sinh ngày 29/11/2011 và cháu H, sinh ngày 04/5/2012. Sau khi ly hôn, bà Bích yêu cầu trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung và không yêu cầu ông Tín có nghĩa vụ phải cấp dưỡng con chung. Xét thấy, các cháu còn nhỏ và đang sống cùng bà Bích và phát triển ổn định, bình thường từ khi bà Bích và ông Tín ly thân đến nay, và ông Tín không thể hiện ý kiến gì về vấn đề ly hôn cũng như vấn đề nuôi con chung, nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi cháu Kvà cháu H của bà Bích.
[6] Về cấp dưỡng: Bà Bích không yêu cầu ông Tín cấp dưỡng con chung nên ông Tín không có nghĩa vụ cấp dưỡng con chung.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bích cho rằng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét;
[8] Về án phí: Do được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147; 267; 269; 273; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B.
Về quan hệ hôn nhân: Bà B được ly hôn với ông T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 207, quyển số 01/2009 ngày 08/12/2009 của Ủy ban nhân dân thị trấn Mộc Hóa cũ (nay là phường 1) cấp cho ông T và bà B không còn giá trị sử dụng.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Kim, sinh ngày 29/11/2011 và cháu H, sinh ngày 04/5/2012 cho bà B trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu con chung đến khi các cháu tròn 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Ông T không có nghĩa vụ cấp dưỡng con chung.
Ông T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Bà B phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0006634 ngày 12/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã K, bà B đã nộp đủ.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày Tòa án tống đạt bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc Anh – Lâm Thị Kim Xuyến
Trần Diệp
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND thị xã K; - Chi cục THA/DS thị xã K; - Các đương sự; - UBND phường 1; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Diệp |