vanban.org

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị T và anh Bùi Văn T. Về nuôi con chung: Giao con Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 và Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-20132017 cho chị Lưu Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi, trừ khi có sự thay đổi khác của pháp luật. Chị Lưu Thị T không yêu cầu anh Bùi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Thị T - Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26-4-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyến,

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Biên

Bà Hoàng Thị Chính.

-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang-Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26-4-2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 263/2017/TLST-HNGĐ ngày 22-11-2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2018/QĐXX-ST ngày 16-3-2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 166/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05-4-2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị T, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ T, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ T, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (Đơn xin ly hôn) ngày 07-10-2017 và bản tự trình bày ngày 22-11-2017, nguyên đơn là chị Lưu Thị T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, chị xây dựng hạnh phúc với anh Bùi Văn T trên cơ sở được tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 17-10-2005 (Số: 52; quyển số: 01/2005). Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống của hai người không hợp nhau, thiếu tôn trọng nhau, thường xuyên xảy ra va chạm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, sinh hoạt. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân nhiều năm nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không thể đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Anh chị có 02 con là Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 và Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-2013. Chị T nhận cháu Q và đề nghị giao cháu T cho anh T nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và công nợ, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn là anh Bùi Văn T vẫn vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không có lý do.

Tại Đơn đề nghị ngày 22-11-2017, cháu Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 là con chung của chị T và anh T trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 29 và 30-01-2018, đại diện gia đình của anh T đều cung cấp thông tin về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh T đã rất căng thẳng và kéo dài nhiều năm, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh ngày 20-12-2017, địa phương nơi chị T và anh T cư trú cung cấp anh T thường xuyên có mặt tại địa phương và tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã rất căng thẳng, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T. Chị thay đổi yêu cầu về nuôi con chung, cụ thể là chị nhận trực tiếp nuôi 02 con là Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 và Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-2013 đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T nêu lý do thay đổi yêu cầu về nuôi con là vì chị cho rằng anh T thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc, giáo dục con chung.

Về Tài sản chung và công nợ chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Anh Bùi Văn T đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn:

Tòa án nhân dân quận K đã xác định đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định tư cách đương sự, mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ của Thẩm phán đúng với quy định tại Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt, thông bảo văn bản tố tụng bằng phương thức trực tiếp và niêm yết công khai theo đúng với quy định tại Điều 173 và Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được thực hiện theo đúng quy định tại các điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các điều 70, 72 và 199 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đề xuất việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lưu Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn T. Về con chung: Đề nghị giao con Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 và Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi, chị T không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Tài sản chung và công nợ: Các đương sự đều không đề nghị nên không xem xét.

Về án phí: Chị Lưu Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lưu Thị T có đơn khởi kiện (Đơn xin ly hôn) với anh Bùi Văn T và đề nghị được nuôi con. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Bùi Văn T có đăng ký nhân khẩu thường trú tại Tổ T, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng và thường xuyên ăn ở, sinh hoạt tại đây. Anh T là bị đơn trong vụ án nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân quận K tiến hành thụ lý vụ án vào ngày 22-11-2017 và ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào 16-3-2018 là đúng với quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thủ tục giải quyết vụ án: Mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T vẫn từ chối thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên toà lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anhT theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Trong bản tự khai, biên bản xác minh, biên bản ghi lời khai, bản tự trình bày và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa đều thể hiện nội dung chị Lưu Thị T xây dựng hạnh phúc với anh Bùi Văn T trên cơ sở được tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 17-10-2005. Vì vậy quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Vợ chồng chị T và anh T chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống của hai người không hợp nhau, thiếu tôn trọng nhau, thường xuyên xảy ra va chạm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, sinh hoạt. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân nhiều năm nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không thể đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống, sinh hoạt. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án anh T vẫn vắng mặt, không trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị T. Tòa án đã tiến hành hòa giải 02 lần nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Anh T cũng đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, điều đó thể hiện sự thiếu thiện chí hợp tác, thiếu trách nhiệm và không mong muốn đoàn tụ vợ chồng của anh T. Như vậy có thể thấy rằng giữa chị T và anh T không còn yêu thương, Q trọng nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị T được ly hôn anh T.

Về con chung và vấn đề cấp dưỡng con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 và Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-2013. Trước thời điểm xét xử chị T nhận nuôi con Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-2013 và đề nghị giao con Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa, chị T thay đổi yêu cầu và nhận trực tiếp nuôi 02 con đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu nuôi con của chị T là hoàn toàn tự nguyện, có cơ sở nên cần được chấp nhận.

Do vậy để đảm bảo về lợi ích, tâm lý, nguyện vọng và mọi mặt khác của các con nên cần áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 và Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-20132017 cho chị Lưu Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con các đủ 18 tuổi, trừ khi có sự thay đổi khác của pháp luật. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung và công nợ: Anh chị không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu chị T hoặc anh T có yêu cầu thực hiện quyền chia tài sản chung, công nợ của vợ chồng thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị T là nguyên đơn phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 244; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị T và anh Bùi Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao con Bùi T T sinh ngày 10-10-2006 và Bùi Phú Q sinh ngày 03-5-20132017 cho chị Lưu Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi, trừ khi có sự thay đổi khác của pháp luật. Chị Lưu Thị T không yêu cầu anh Bùi Văn T cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không được ai cản trở.

3. Về tài sản chung và công nợ: Chị Lưu Thị T và anh Bùi Văn T đều không đề nghị xem xét nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lưu Thị T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010086 ngày 22-11-2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng. Chị Lưu Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lưu Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Bùi Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ