- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa chị Lường Thị X và anh Lò Văn X"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị X được ly hôn với anh Lò Văn X.
- Căn cứ chính? Điều 227 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2018 V/v: Xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Quốc.
2. Bà Trương Thị Thủy.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Mai Xg -Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản- Kiểm sát viên.
Ngày 29/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2018/TLST - HNGĐ ngày 22/01/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐST- HNGĐ, ngày 24/5/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị X; Sinh năm: 1987;
Địa chỉ: Bản PN, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn X; Sinh năm: 1980;
Địa chỉ: Bản PN, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 18/01/2018 và lời khai bổ sung tại Toà án nhân dân huyện TC. Nguyên đơn chị Lường Thị X trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lò Văn X đăng ký kết hôn với nhau từ ngày 25 tháng 5 năm 2016 tại UBND xã TL, huyện TC, kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối.
Sau khi kết hôn chị và anh X chung sống hoà thuận hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh X thường xuyên uống rượu chè và chơi bời nên nghiện ma túy. Đã được hai bên gia đình hòa giải và động viên nhiều lần nhưng anh X vẫn không thay đổi, dẫn đến tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lường Thị X nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tin tưởng, thương yêu nhau, không thể chia sẻ mọi khó khăn trong cuộc sống nên đã viết đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện TC giải quyết cho anh, chị được ly hôn. Tại phiên tòa chị X giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Lò Văn X.
- Về con chung: Trong thời chung sống anh, chị có 01 con chung tên là: Lò Thị Thanh H- Sinh ngày 08/6/2016. Nay ly hôn nguyện vọng của chị X là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, chị X không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 29/3/2018, ngoài những tài liệu, chứng cứ do chị X đã giao nộp, chị X không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện TC đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh X vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện TC tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, kết quả xác minh như sau:
Trong biên bản xác minh ngày 26/4/2018 tại bản PN, xã TL, huyện TC và UBND xã TL, huyện TC. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: Anh Lò Văn X và chị Lường Thị X có hộ khẩu thường trú tại bản PN, xã TL, giữa anh X và chị X có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, trong quá trình chung sống anh, chị có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh X là đối tương nghiện ma túy, thường xuyên uống rượu, chè về chửi bới, đánh đập vợ con, chính quyền địa phương đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh X vẫn không nghe. Hiện nay UBND xã TL đang lập danh sách để đi cai nghiện bắt buộc 10 ngày đối với anh X, vì vậy anh X cố tình trốn tránh và không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Chị X và anh X có một con chung tên là Lò Thị Thanh Hằng- Sinh ngày 08/6/2016. Về tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay chị Lường Thị X đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự, nội quy phiên tòa đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lò Văn X đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72, 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là có cơ sở căn cứ.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; 56, 81, 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Lường Thị X được ly hôn với anh Lò Văn X.
- Về con chung: Đề nghị xử giao cháu Lò Thị Thanh H- Sinh ngày 08/6/2016 cho chị Lường Thị X được trực tiếp được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lò Văn X chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lò Văn X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở
- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lường Thị X được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Xét yêu cầu giải quyết việc ly hôn của nguyên đơn chị Lường Thị X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La đã tiến hành các thủ tục giao: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đương sự theo đúng quy định của pháp luật, theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên phía bị đơn anh Lò Văn X vẫn cố tình không chấp hành sự có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân: Chị Lường Thị X và anh Lò Văn X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 25 tháng 5 năm 2016 đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh X là hợp pháp, cần được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh, chị đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do anh X thường xuyên uống rượu, chè về chửi bới, đánh đập vợ con và anh X là đối tượng nghiện ma túy dẫn đến tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc. Đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được. Hiện nay anh, chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị X có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh X, hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Lường Thị X được ly hôn với anh Lò Văn X.
. Về con chung: Trong thời chung sống anh, chị có một con chung tên là: Lò Thị Thanh Hằng- Sinh ngày 08/6/2016. Nay ly hôn nguyện vọng của chị X là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hằng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, chị X không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, xem xét chị X có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Hằng cho chị X để chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H là hợp tình, hợp lý để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu như ăn mặc, học hành và những điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý bởi anh X là đối tượng nghiện ma túy. Chị Lường Thị X không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận, sau khi ly hôn anh X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án: chị Lường Thị X được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 51; Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị X được ly hôn với anh Lò Văn X.
2. Về con chung: Xử giao cháu Lò Thị Thanh H- Sinh ngày 08/6/2016 cho chị Lường Thị X được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lò Văn X chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lò Văn X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lường Thị X được miễn toàm bộ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Lường Thị X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Lò Văn X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo thủ tục hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện TC ( 2 bản ); - UBND xã TL, H.TC; - Chi cụcTHADS huyện TC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Chiến |