vanban.org

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim Ng đối với anh Nguyễn Thanh Tr.

Về con chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Kim Ng không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chi Ng bị đơn anh Tr"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim Ng đối với anh Nguyễn Thanh Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 04-4-2018
“Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Mỹ 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 214/2017/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXX- ST, ngày 26 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim Ng, sinh năm 1995 nơi cư trú Tổ 02, ấp Mỹ T, xã Mỹ Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. Tạm trú ấp Đông Hòa 2, xã Đông Th, Thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long. ( Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Tr, sinh năm 1984 nơi cư trú cuối cùng Tổ 02, ấp Mỹ T, xã Mỹ Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản khai đề ngày 01/12/2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Kim Ng trình bày:

Vào năm 2013 chị Ng và anh Nguyễn Thanh Tr có tổ chức đám cưới, hôn nhân do mai mối, có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã Mỹ Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/6/2013. Nữ trang cưới gồm 01 đôi bông tai, 01 sợi dây chuyền, tổng cộng là 04 chỉ vàng 24K. Hiện tại số vàng cưới do cha mẹ anh Tr cất giữ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống bên gia đình anh Trung tại tổ 02, ấp Mỹ T, xã Mỹ Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm, sau đó anh Tr và chị Ng lên tỉnh Bình Dương làm công nhân được khoảng 3 tháng thì anh Tr thường hay chửi mắn, đánh đập chị Ng thậm chí anh Tr còn nhốt chị Ng trong phòng trọ chịu đựng không nỗi nên khoảng tháng 2 năm 2015 chị Ng bỏ trốn về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Chị và anh Tr không có con chung. Thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.

Từ lúc chị bỏ về cha mẹ ruột sinh sống chị với anh Tr không có liên lạc với nhau. Sau đó chị có quay về bên gia đình chồng để tìm anh Tr giải quyết việc hôn nhân nhưng Công an xã Mỹ Th đã xác nhận anh Tr bỏ địa phương đi từ tháng 2 năm 2015 cho đến nay không có tin tức gì. Chị Ng đã gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân tuyên bố anh Nguyễn Thanh Tr mất tích. Tại Quyết định số 06/2017/VDS-ST ngày 20/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân tuyên bố anh Nguyễn Thanh Tr mất tích.

Chị Ng xác định không còn tình cảm với anh Tr và tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Về hôn nhân chị Nguyễn Kim Ng yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Thanh Tr. Về con chung không có. Về quan hệ tài sản không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn anh Nguyễn Thanh Tr không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

Tại phiên tòa vị Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật và ý kiến đề nghị giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ đúng theo quy định pháp luật tố tụng, bị đơn đã bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân tuyên bố mất tích nên vắng mặt trong các phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng chứ được tổ chức vào ngày 09/01/2018, ngày 29/01/2018 và phiên tòa ngày 15/3/2018.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: Áp dụng Điều 147, 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; áp dụng điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Kim Ng đối với anh Nguyễn Thanh Tr.

Về con chung không có. Về quan hệ tài sản: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Kim Ng phải nộp số tiền là 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Kim Ng có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết ly hôn anh Nguyễn Thanh Tr nơi cư trú cuối cùng Tổ 02, ấp Mỹ T, xã Mỹ Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

Về nội dung :

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim Ng và anh Nguyễn Thanh Tr có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã Mỹ Th, huyện BT được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/6/2013 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận . Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Thanh Tr của chị Nguyễn Kim Ng là hoàn toàn có cơ sở. Bởi vì, về mâu thuẩn vợ chồng giữa chị Ng và anh Tr trầm trọng, sự việc này đã được Tòa án xác minh là đúng, chị Ng và anh Tr sống ly thân từ tháng 02 năm 2015, chị Ng xác định không còn tình cảm với anh Tr nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, tại Quyết định số 06/2017/VDS-ST ngày 20/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân tuyên bố anh Nguyễn Thanh Tr mất tích. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Kim Ng được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Tr.

Về con chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Kim Ng không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị Nguyễn Kim Ng phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9 và Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim Ng đối với anh Nguyễn Thanh Tr. Cho chị Nguyễn Kim Ng ly hôn với anh Nguyễn Thanh Tr.

2. Về con chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Kim Ng không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Kim Ng phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo lai thu số 0015015 ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị Nguyễn Kim Ng đã nộp đủ không phải nộp thêm.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Án xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Trung vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ