- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Dân sự phúc thẩm"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH K N T M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/DS-PT Ngày: 27-11-2018 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T
N NH N D N T NH K N T M
- Thành phần Hội đồng xét x phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hu nh Nguyên
Các Thẩm phán: Ông Lý Thành Lê
Bà Đỗ Thị Kim Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27-11-2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, x t xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2018/TLPT-DS ngày 27-9-2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST, ngày 31-8-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử phúc thẩm số: 1197/2018/QĐ-PT, ngày 29-10-2018, gi a các bên đương sự:
1. Đồng nguyên đơn:
- Chị Nguyễn Thị C (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khối 8, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh K.
- Anh Đặng Quang N (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, khu vực An Khánh, quận N, thành phố T.
Người đại diện h p pháp của đồng nguyên đơn à: Chị Nguyễn Thị V
Địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện T, tỉnh K (Văn bản ủy quyền ngày 16/11/2017 có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện T, tỉnh K.
3. Người có quyền i, nghĩa vụ iên quan:
- Chị Nguyễn Thị V(Có mặt).
Anh Đặng Quang Thu (Vắng mặt).
Người đại diện h p pháp của anh Đặng Quang Thu à: Chị Nguyễn Thị V(Văn bản ủy quyền ngày 02/01/2018 có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện T, tỉnh K.
- Chị Nguyễn Thị Thư Phong (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thư Phong à: Anh Nguyễn Văn B(Văn bản ủy quyền 31/4/2018 có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện T, tỉnh K.
4. Người àm chứng:
- Ông Nguyễn Văn Chơi, sinh năm 1958 (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Quang Nhật, sinh năm 1958 (Vắng mặt).
- Bà Dương Thị Nhị, sinh năm 1961 (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Sâm, sinh năm 1968 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện T, tỉnh K.
- Bà Nguyễn Thị Lưu, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện T, tỉnh K.
- Ông Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1944 (Có mặt).
Địa chỉ: Khối 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh K.
NỘI D NG VỤ N:
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Nguyễn Thị C và anh Đặng Quang N có thửa đất số 10 tờ bản đồ 55D, diện tích 20.000 m2, tại Thôn 6, xã Kon Đào, huyện Đăk Tô, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N524736, số vào sổ 00808 QSDĐ/04KĐ ngày 12/12/1999 của Uỷ ban nhân dân huyện Đăk Tô cấp (do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ghi chiều dài nên không xác định được chiều dài các cạnh thửa đất).
Năm 1994, nguyên đơn đã trồng cao su trên một phần diện tích đất. Diện tích đất còn lại theo như đo đạc xem x t thẩm định tại chỗ là 3310,9 m2 đã bị anh Tý (đã chết) trồng m (sắn), không nhớ năm nào. Sau này đến anh Nguyễn Văn Btrồng bời lời (không nhớ năm nào) lấn chiếm sử dụng. Quá trình sử dụng đất, anh Bảy không có cải tạo gì đối với đất.
Năm 2000, vợ chồng nguyên đơn đã sang lại toàn bộ thửa đất số 10 tờ bản đồ 55D, diện tích 20.000 m2 và toàn bộ cây cao su trên đất cho chị Nguyễn Thị Vân, anh Đặng Quang Thu nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng.
Nay nguyên đơn yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Văn B, chị Nguyễn Thị Thư Ph trả lại diện tích đất lấn chiếm là 3310,9 m2. Cây bời lời đã đến thời k thu hoạch nên nguyên đơn đồng ý để anh Bảy thu hoạch xong trả lại đất.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Bảy, đồng thời à người đại diện theo ủy quyền của người có quyền i, nghĩa vụ iên quan, chị Nguyễn Thị Thư Phong trình bày:
Thửa đất tranh chấp là của anh Nguyễn Văn khai hoang (khoảng năm 1990) trồng m trước khi vợ chồng chị Cường, anh Ngọc trồng cao su ở rẫy bên cạnh. Do đất có độ dốc nên trồng m một thời gian thì anh Bảy cho anh Thành (chú vợ) trồng cây bời lời từ năm 1996, anh Thành đã thu hoạch 2 lần. Khi bời lời bị cháy thì anh Thành trả lại đất cho anh Bảy. Hiện nay cây bời lời tái sinh chồi khoảng 5 năm. Tuy đất khai hoang, không có giấy tờ nhưng anh Bảy sử dụng liên tục từ đó cho đến nay không có ai tranh chấp, có nhiều người làm chứng. Anh Bảy sử dụng đất này cũng không có cải tạo, bồi bổ gì đối với đất, vẫn là đất tự nhiên từ trước đến nay.
Anh Bảy không lấn chiếm đất của nguyên đơn nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền i nghĩa vụ iên quan, chị Nguyễn Thị Vđồng thời à người đại diện theo ủy quyền của người có quyền i nghĩa vụ iên quan Đặng Quang Thu trình bày:
Thửa đất số 10 tờ bản đồ 55D, diện tích 20.000 m2, tại Thôn 6, xã Kon Đào, huyện Đăk Tô, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N524736, số vào sổ 00808 QSDĐ/04KĐ ngày 12/12/1999 của Uỷ ban nhân dân huyện Đăk Tô cấp cho hộ bà Nguyễn Thị C đã được sang lại toàn bộ diện tích đất và cây cao su cho chị Vân, anh Thu nhưng hai bên chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm là 3310,9 m2 chị Vân, anh Thu đồng ý để Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn diện tích đất lấn chiếm là 3310,9 m2.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST, ngày 31-8-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum đã quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cường, anh Đặng Quang Ngọc.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo của nh ng người tham gia tố tụng.
Ngày
nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cường kháng cáo v i nội dung:
1. Tòa án nhân dân huyện Đắk Tô căn cứ theo Công văn 142/PTNMT ngày 27 tháng 7 năm 2018 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện Đắk Tô là không có căn cứ.
2. Việc mời người làm chứng là bà con, chú bác của ông Nguyễn Văn Blà chưa công bằng.
3. Ông Nguyễn Văn Bchưa có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất thì được bảo vệ, còn bà có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất từ năm 1999 thì lại không có đủ diện tích được cấp theo Luật đất đai năm 1993.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và gi nguyên đơn kháng cáo. Các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu ý kiến như sau:
- Trong quá trình chuẩn bị x t xử và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng x t xử phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cường đề ngày 12/09/2018.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, x t nội dung, quyết định của bản án sơ thẩm, đơn kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng x t xử phúc thẩm nhận định các lý do kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cường như sau:
[1] Chị Cường kháng cáo cho rằng Tòa án nhân dân huyện Đắk Tô căn cứ theo Công văn 142/PTNMT ngày 27 tháng 7 năm 2018 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện Đắk Tô là không có căn cứ. t thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô đã căn cứ đầy đủ lời khai của nh ng người làm chứng, quá trình xem x t, thẩm định tại chỗ, căn cứ vào sơ đồ trích lục và ý kiến của cơ quan có thẩm quyền chứ không chỉ căn cứ vào Công văn 142/PTNMT ngày 27 tháng 7 năm 2018 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện Đắk Tô.
[2] Nội dung kháng cáo cho rằng: Việc mời người làm chứng là bà con, chú bác của ông Nguyễn Văn Blà chưa công bằng. Hội đồng x t xử thấy, trong số nh ng người làm chứng là ông Nguyễn Văn Chơi, bà Dương Thị Nhị, bà Nguyễn Thị Sâm, bà Nguyễn Thị Lưu, ông Nguyễn Quang Nhật đều tự khai là họ không có họ hàng gì với anh Bảy mà chỉ biết nhau vì ở cùng xã. Chỉ có ông Nguyễn Văn Thành là có họ hàng với anh Bảy, nhưng tất cả nh ng người làm chứng khác đều khai đất của anh Bảy khai hoang năm 1990. Tất cả nh ng người làm chứng này họ đều có rẫy gần rẫy của anh Bảy và biết việc anh bảy khai hoang mảnh đất khoảng vào năm 1990.
[3] Đối với lý do nguyên đơn cho rằng: Anh Nguyễn Văn Bchưa có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất thì được bảo vệ, còn chị Cường có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất từ năm 1999 thì lại không có đủ diện tích được cấp theo Luật đất đai năm 1993. Thấy rằng, diện tích đất thực tế sử dụng của nguyên đơn ít hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải do bị đơn lấn chiếm mà do khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đo đạc, vẽ sơ đồ, tính toán diện tích thủ công nên không đảm bảo chính xác. Thửa đất của nguyên đơn với đất bị đơn có ranh giới rõ ràng, ranh giới này được nguyên đơn xác định bằng hàng cây bời lời do nguyên đơn trồng. Thửa đất của bị đơn sử dụng ổn định từ khoảng năm 1990 đến nay, bị đơn đã trồng cây bời lời thu hoạch nhiều lần nhưng không có ai tranh chấp.
[4] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm không áp dụng các Điều luật về Luật đất đai, Bộ luật dân sự là chưa đầy đủ nên cấp phúc thẩm bổ sung vào cho đầy đủ.
Với nh ng nhận định, phân tích trên, thấy kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cường không có cơ sở chấp nhận.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cường phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên;
Q YẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C đề ngày 12/09/2018.
Áp dụng: Điều 15, 20 Luật đất đai năm 1993; Điều 200, 202; 203 Luật đất đai năm 2013. Các Điều 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị C, anh Đặng Quang N đề ngày 16/11/2017.
Về án phí: Áp dụng Điều 144; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Nguyễn Thị C, anh Đặng Quang phải chịu 300.000 (ba trăm) nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 1.000.0000 (Một triệu) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003420 ngày 26/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Tô. Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Cường, anh Đặng Quang N700.000 (Bảy trăm nghìn) đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị C, anh Đặng Quang N phải chịu chi phí xem x t, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá tài sản là 6.600.000 (Sáu triệu, sáu trăm nghìn) đồng. Chị Cường, anh Ngọc đã nộp đủ.
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án, chị Nguyển Thị C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (27-11-2018).
| Nơi nhận: - VKSND t. Kon Tum; - Chị cục THADS h. Đăk Tô - VKSND h. Đăk Tô; - TAND h. Đăk Tô; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T.M HỘI Đ NG X T X PH C TH M TH M PH N - CHỦ T A PHI N TÒA Hu nh Nguyên |