vanban.org

Bản án 12/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H là vợ chồng.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơn thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004615 ngày 24/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các đư…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH L - NGHỆ AN
Bản án số: 12/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2017.
V/v: “Ly hôn”.
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đạt N.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Trịnh Thị V.
2.Ông Đậu Cao N.
L, tỉnh Nghệ An.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 148/2017/TLST-HNGĐ, ngày 25
tháng 5 năm 2017 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
83/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978. Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã Quỳnh G, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Đoàn Ngọc H, sinh năm 1968. Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã Quỳnh G, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án huyện Quỳnh L mở phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, Bản tự khai, Biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị và anh Đoàn Ngọc H yêu nhau trên cơ sở tự nguyện rồi về sống chung như vợ chồng tại xóm T, xã Quỳnh G, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An, sau khi được hai bên gia đình chỉ tổ chức đám cưới vào ngày 06/10/1993, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu hai người chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 9 năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, anh H thỉnh thoảng có đánh đập chị. Kể từ ngày 23/7/2013 đến nay hai người sống ly thân, chị vào miền Nam sinh sống và làm ăn.

Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh H, thời gian sống ly thân đã lâu nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh H là vợ chồng.

Tại Bản tự khai, Biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Đoàn Ngọc H trình bày:

Anh hoàn toàn nhất trí như lời trình bày nêu trên của chị Nguyễn Thị L về thời gian anh và chị L tự nguyện về sống chung với nhau tại xóm T, xã Quỳnh G, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An, sau khi được hai bên gia đình chỉ tổ chức đám cưới vào ngày 06/10/1993, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; về thời gian hai người chung sống hạnh phúc cũng như thời gian mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn và thời gian hai người sống ly thân nhau.

Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận anh chị là vợ chồng thì anh cũng đồng ý vì hai người không còn tình cảm với nhau nữa.

Về con chung:

Chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H đều thống nhất trình bày: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung là: Đoàn Thị L, sinh ngày 03/9/1995 và Đoàn Ngọc T, sinh ngày 04/5/1998.

Hiện nay các con đều đã trưởng thành, việc ở với ai là tùy các con lựa chọn, quyết định.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H chung sống với nhau từ ngày 06/3/1993, nhưng từ đó đến nay hai người không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, như đơn trình bày tình trạng hôn nhân có xác nhận của UBND xã Quỳnh G, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, theo khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nay chị L, anh H đều đề nghị Tòa án xét xử không công nhận hai người là vợ chồng. Do đó, căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H là vợ chồng.

2. Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H có 02 con chung là: Đoàn Thị L, sinh ngày 03/9/1995 và Đoàn Ngọc T, sinh ngày 04/5/1998. Hiện nay các con đều đã trưởng, việc ở với ai là do các con quyết định.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Ngọc H là vợ chồng.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơn thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004615 ngày 24/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ