- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn Anh Đ - Võ Đức T"
- Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 604 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1197/2017/DS-PT Ngày: 26/12/2017 |
V/v Tranh chấp về bồi thường thiệt hại
do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Dung
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Bà Võ Thị Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Tâm Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Phan
Văn Kiền - Kiểm sát viên.
Vào ngày 26/12/2017 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 532/2017/TLPT-DS ngày 26
tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 1999/2017/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2017
của Tòa án nhân dân quận B bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2705/2017/QĐPT-DS
ngày 16 tháng 11 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số
6789/2017/QĐ-PT ngày 07 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1959; cư trú tại: Đường Đ,
Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú tại: đường N, Phường Y,
quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).
- Bị đơn: Ông Võ Đức T; cư trú tại: Cư xá T, Phường A, quận B, Thành
phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
- Người kháng cáo: bà Nguyễn Anh Đ, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/8/2016, bản tự khai và các biên bản tại Tòa án,
nguyên đơn là bà Nguyễn Anh Đ trình bày: Báo P Thành phố Hồ Chí Minh ngày
15/9/2015 có bài đăng với tiêu đề “Đương sự xách ghế ngồi ngang hàng với VKS”. Nội dung bài báo có đoạn “Trước đó, bà Đ (người đại diện theo ủy quyền của bị đơn) nhiều lần la hét, quậy tại Tòa và tự xếp ghế, bàn ngồi ngang hàng với luật sư và kiểm sát viên. Theo luật sư Võ Đức T, Đoàn Luật sư TP.HCM, Bộ luật TTDS quy định đương sự phải chịu sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa nên hành vi của bà Đ rõ ràng có dấu hiệu gây rối”. Bà xác định bà là bà Đ đã nêu trong bài báo tuy nhiên thực tế vụ việc không như bài báo đã đăng. Bà chỉ mượn bàn để sắp xếp hồ sơ và ghi chép, không có hành vi tự xếp ghế, bàn ngồi ngang hàng với luật sự và kiểm sát viên, la hét, quậy tại Tòa. Việc luật sư Võ Đức T cho rằng Bộ luật Tố tụng dân sự quy định đương sự phải chịu sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa nên hành vi của bà rõ ràng có dấu hiệu gây rối, đăng trên Báo P Thành phố Hồ Chí Minh là xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của bà. Bà yêu cầu ông Võ Đức T phải bồi thường số tiền là 10 tháng lương cơ bản và phải tiến hành xin lỗi, đính chính thông tin trên Báo P Thành phố Hồ Chí Minh trong ba kỳ liên tiếp.
Bà không có yêu cầu gì đối với người viết bài báo và Báo P Thành phố Hồ
Chí Minh trong vụ án này.
Bị đơn là ông Võ Đức T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý,
giấy triệu tập và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 1999/2017/DS-ST ngày 15/9/2017 của Tòa án
nhân dân quận B đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 131, điểm b khoản 2
Điều 227, Điều 266, Điều 273, khoản 2 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 604, Điều 611 của Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Bà Nguyễn Anh Đ
về việc buộc ông Võ Đức T bồi thường do xâm phạm danh dự, nhân phẩm số tiền là 10 tháng lương cơ bản và phải tiến hành xin lỗi, đính chính thông tin trên báo P Thành phố Hồ Chí Minh trong ba kỳ liên tiếp.
2. Về án phí: Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án
của các đương sự.
Ngày 26/9/2017, nguyên đơn bà Nguyễn Anh Đ có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Anh Đ trình bày:
Bà hoàn toàn không có hành vi “nhiều lần la hét, quậy tại Tòa và tự xếp
ghế, bàn ngồi ngang hàng với Luật sư, Viện kiểm sát” như báo P đã đưa tin, báo
P cũng đã cải chính nội dung vào ngày 02/10/2015. Trong khi đó Luật sư Võ
Đức T vẫn vu khống cho bà và cho rằng hành vi của bà rõ ràng có dấu hiệu gây
rối. Bà yêu cầu người viết bài báo và báo P cùng ông T phải đối chất với nhau.
Ông T đã không đến Tòa án, không nộp văn bản ghi ý kiến là hành vi xem
thường pháp luật, ông T vắng mặt thì ông T phải là người thua kiện. Phần nhận
định của bản án sơ thẩm đã nêu “phóng viên chỉ có trao đổi bằng điện thoại với
bị đơn và lược ghi ý kiến của bị đơn”, điều này đã chứng minh luật sư Toàn có
trao đổi bằng điện thoại và bài báo được đăng theo yêu cầu của bị đơn. Tuy
nhiên cấp sơ thẩm lại không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà là
không đúng theo quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của
bà. Do đó, bà kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc ông T phải bồi thường 10 tháng lương
cơ bản do đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà trên báo P.
Bị đơn là ông Võ Đức T: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
vẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến
của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở
giai đoạn phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo
quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương
sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra
theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Theo Văn bản của báo P đã xác định các chi tiết nêu trong
thông tin trên báo không có căn cứ xác thực, không đảm bảo tính chính xác nên
báo P đã tiến hành gỡ bỏ thông tin và đăng cải chính. Mặc dù bài báo có nhắc
đến tên Luật sư T nhưng báo P cũng xác nhận phóng viên không trực tiếp chứng
kiến sự việc, chỉ trao đổi bằng điện thoại với Luật sư, không có bản ghi âm để
đối chiếu. Như vậy, nội dung thông tin trong bài báo là do phóng viên viết,
không có chứng cứ chứng minh bài báo được đăng theo yêu cầu của bị đơn. Do
đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Vào ngày 15/9/2015 báo P TP. Hồ Chí Minh có đăng tin với tiêu đề
“Đương sự xách ghế ngồi ngang hàng với Viện kiểm sát”. Nội dung tin có phản
ánh bà Đ nhiều lần la hét, quậy tại tòa và tự xếp ghế, xếp bàn ngồi ngang hàng
với Luật sư và Kiểm sát viên; đồng thời trong tin có ghi nhận ý kiến của Luật sư Võ Đức T, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, cho rằng hành vi của bà Đ có dấu hiệu gây rối. Bà Đ trong bài viết theo xác định của báo P TP. Hồ Chí Minh là bà Nguyễn Anh Đ. Bà Đ trình bày chính luật sư T là người đã cung cấp thông tin cho báo và đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà khi cho rằng bà có dấu hiệu gây rối.
Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Công văn số 21/BPL ngày 06/02/2017 của
Báo P TP.Hồ Chí Minh gửi cho Tòa án đã xác định: “phóng viên không trực tiếp chứng kiến mà chỉ lược ghi ý kiến của Luật sư Toàn”. Báo P cũng thừa nhận lúc trao đổi phóng viên không ghi âm nên không cung cấp được nguyên văn nội dung phát biểu của Luật sư T. Như vậy, không có cơ sở để xác định Luật sư T đã cung cấp nội dung thông tin cụ thể như thế nào cho phóng viên viết bài vào ngày 15/9/2015. Nội dung thông tin, cách diễn đạt trong bài báo là do phóng viên viết, báo P đăng tải, không phải nguyên văn ý kiến của bị đơn, không có chứng cứ chứng minh bài báo được đăng theo yêu cầu của bị đơn. Vào ngày 02/10/2015, Báo P TP. Hồ Chí Minh cũng đã gỡ bỏ tin trên báo điện tử và đăng cải chính đồng thời xin lỗi bà Đ. Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 604, 611 của Bộ luật Dân sự năm 2005 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của phía
nguyên đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.
[3] Bà Đ không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 604, Điều 611 của Bộ luật Dân Sự năm 2005;
Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Tuyên xử:
Giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của
nguyên đơn bà Nguyễn Anh Đ
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Anh Đ về
việc buộc ông Võ Đức T phải bồi thường 10 tháng lương cơ bản do đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm của bà trên báo và phải tiến hành xin lỗi, đính chính thông tin trên báo P TP. Hồ Chí Minh trong ba kỳ liên tiếp.
2. Bà Đ không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Tòa án nhân dân quận B; - Cục Thi hành dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Kim Dung |