vanban.org

Bản án 1194/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Hoàng Chí L.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Hoàng Lê Gia B, sinh ngày 02/3/2015 và Hoàng Lê Bảo A, sinh ngày 27/8/2019 cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Hoàng Chí L cho đến khi có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Hoàng Chí L.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:1194/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Mai Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2/ Ông Phạm Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Ngọc Duyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 334/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 503/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 367/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: nhà không số, tổ A, ấp Đ, xã T1, huyện H, Tp.HCM.

Bị đơn: Ông Hoàng Chí L, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: nhà không số, tổ A, ấp Đ, xã T1, huyện H, Tp.HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Bà T và ông Hoàng Chí L tìm hiểu nhau trong thời gian một năm rồi tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 20/8/2012 tại UBND xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, ông L hay rượu chè bỏ bê vợ con. Bà đã nhiều lần nói chuyện với chồng, cho chồng nhiều cơ hội sửa đổi nhưng bà T và ông L vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn. Đến tháng 06/2023, bà T và ông L sống ly thân. Nay bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và mỗi người đều có cuộc sống riêng nên bà yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông Hoàng Chí L.

Về con chung: có 02 con chung tên: Hoàng Lê Gia B, sinh ngày 02/3/2015 và Hoàng Lê Bảo A, sinh ngày 27/8/2019. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Gia B và Bảo A, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn ông Hoàng Chí L vắng mặt, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải và thời hạn gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng và đầy đủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Toà án đã triệu tập, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Hoàng Chí L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2012, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 20/8/2012 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bàị T và ông L là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông L không cung cấp lời khai, không giao nộp chứng cứ, không đưa ra ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bàị T để làm cơ sở giải quyết vụ án. Theo như lời khai của bà T thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2019 do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung; ông L hay rượu chè bỏ bê vợ con. Bà đã nhiều lần nói chuyện với chồng, cho chồng nhiều cơ hội sửa đổi nhưng bà T và ông L vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 06/2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng ít liên hệ với nhau, mỗi người đều sống cuộc sống riêng của mình. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải nhưng ông L vẫn không đến Tòa án tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa, chứng tỏ ông L không có thiện chí hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với bà T. Hiện nay, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông L. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của bà T và ông L đang ở trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xét thấy yêu cầu ly hôn của bà T cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà T và ông L có 02 con chung tên: Hoàng Lê Gia B, sinh ngày 02/3/2015 và Hoàng Lê Bảo A, sinh ngày 27/8/2019. Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Gia B và trẻ Bảo A. Hội đồng xét xử nhận định: trẻ Gia B và trẻ Bảo A hiện đang sống với bà T, yêu cầu của bà T phù hợp với nguyện vọng của trẻ Gia B cũng như phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Ông L không có ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử quyết định tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con đối với ông L cho đến khi có yêu cầu.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T tự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà T phải chịu, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Hoàng Chí L.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Hoàng Lê Gia B, sinh ngày 02/3/2015 và Hoàng Lê Bảo A, sinh ngày 27/8/2019 cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Hoàng Chí L cho đến khi có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà người trực tiếp nuôi dưỡng cùng các thành viên gia đình không được cản trở. Ngược lại, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có lý do chính đáng, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được luật định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà bà T đã nộp theo biên lai số AA/2022/0016131 ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bàị T đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Quỳnh Mai Trinh

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Quỳnh Mai Trinh

Cỡ chữ