- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Thúy D, sinh năm 1977; HKTT: 40 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Ngụ tại: 27B đường N, phường T,…"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị Thúy D:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1191/2018/HNGĐ-ST Ngày: 25-10-2018 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Hoàn Xanh
2. Bà Trần Quang Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 291/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 160/2018/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Thúy D, sinh năm 1977; HKTT: 40 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Ngụ tại: 27B đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 1975; HKTT: 40 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Ngụ tại: 27B đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/3/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Đinh Thị Thúy D trình bày:
Bà và ông Nguyễn Khắc T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 17, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, quận T) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 139/2002, quyển số 01/P.17 ngày 13/11/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 27B đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà D trình bày là do ông T ham mê cờ bạc, không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Ông T thường xuyên bỏ nhà đi đá gà, bắn cá ... không quan tâm, chăm sóc đến vợ con. Ông T thường xuyên mang xe đi cầm hoặc bán để lấy tiền cờ bạc, gây ra nhiều nợ nần. Một mình bà D phải lo kinh tế gia đình và lo chăm sóc nuôi dạy con cái. Vì thương con, bà D đã nhiều lần đã tha thứ, khuyên can nhưng ông T vẫn không thay đổi khiến cuộc sống mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng mạnh ai nấy sống mà không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài và không muốn ảnh hưởng đến việc học tập của con nên bà D yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà D khai nhận vợ chồng có một con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2003. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Gia B, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà D yêu cầu vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đương sự cho ông Nguyễn Khắc T nhưng phía bị đơn không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu trên. Tuy nhiên, về phần cấp dưỡng nuôi con, bà D thay đổi không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị Thúy D với ông Nguyễn Khắc T. Giao con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2003 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 139/2002, quyển số 01/P.17 ngày 13/11/2002 do Ủy ban nhân dân Phường 17, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, quận T) cấp thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Thị Thúy D và ông Nguyễn Khắc T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà D yêu cầu ly hôn, ông T có địa chỉ cư ngụ tại quận Tân Phú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận Tân Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt ông Nguyễn Khắc T: Do ông Nguyễn Khắc T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Nguyễn Khắc T.
. Về yêu cầu của nguyên đơn: Bà Đinh Thị Thúy D yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Khắc T:
Căn cứ lời khai của bà D và công văn số 15/CV-PN ngày 12/9/2018 của Hội Liên hiệp Phụ nữ phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh mâu thuẫn gia đình ông T bà D, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông T là có thật. Cuộc sống vợ chồng có xảy ra những mâu thuẫn, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, không có sự tôn trọng lẫn nhau dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T vắng mặt thể hiện ông T không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông T thực sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà D yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
. Về quan hệ con chung: Bà Đinh Thị Thúy D khai nhận vợ chồng có một con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2003. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi là phải dựa vào quyền lợi của trẻ. Từ trước đến nay, cháu Nguyễn Gia B đều do mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa, trong bản tự khai ngày 12/9/2018, nếu ba mẹ ly hôn, cháu Gia B có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, xét thấy việc bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Gia B là hoàn toàn phù hợp với lợi ích của cháu và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà D.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về quan hệ tài sản:
-Về tài sản chung: Bà D yêu cầu vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
.Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà D chịu án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị Thúy D:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Thúy D được ly hôn với ông Nguyễn Khắc T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 139/2002, quyển số 01/P.17 ngày 13/11/2002 do Ủy ban nhân dân Phường 17, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, quận T) cấp cho bà Đinh Thị Thúy D và ông Nguyễn Khắc T hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2003 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà D không yêu cầu.
+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
+ Ông T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về quan hệ tài sản:
+ Về tài sản chung: Bà D yêu cầu vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
2/ Về án phí:
- Án phí ly hôn: Bà Đinh Thị Thúy D chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010864 ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3/ Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q.Tân Phú; - Chi cục THADS Q. Tân Phú; - UBND phường T, Q. Tân Phú; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Lê Thị Tuyết Trinh |