- Tranh chấp gì? "Lê Minh - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI NHÂN DANH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Phi Hồng
2. Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê M, sinh ngày 11/12/1994, tại thành phố H; Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974; có vợ tên Trương Nhật L1, sinh năm 2000 và chưa có con; Tiền án: Không có; Tiền sự: Ngày 19/9/2024, bị công an xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 16/10/2024, bị UBND xã V ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 296/QĐ-UBND trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 18/9/2024. Bị cáo bị bắt giữ ngày 05/01/2025, sau đó chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 05/01/2025, Lê M đi xe ôm đến khu vực gần phà C, thuộc ấp C, xã P, huyện N và xuống xe đi bộ đến gặp người tên L2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, loại Methamphetamine, L2 lấy từ trong túi áo khoác ra 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu bên trong chứa các tinh thể màu trắng và 01 gói nylon, được hàn kín ba cạnh bên trong chứa các tinh thể màu trắng đưa cho M cầm lấy cất vào trong túi áo khoác rồi thuê xe ôm đi về. Đến lúc 17 giờ 20 phút, cùng ngày khi gần về đến nhà thì M xuống xe, đi bộ trên đường H ấp T, xã V, huyện N để về nhà thì bị Tổ công tác tuần tra Công an huyện N phối hợp với công an xã V, huyện N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ: 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hản kín hai đầu, có kích thước khoảng 03 cm bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nylon được hàn kín ba cạnh, có kích thước khoảng 1,5 cm x 1,5 cm bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng được niêm phong kí hiệu là M, có chữ ký của Lê M, Thân Trung H1 và có dấu mộc đỏ của công an xã V, huyện N.
Tại bản Kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh Đ kết luận mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 gói nylon được hàn hàn kín ba cạnh được gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,7528gam. H2 lại đối tượng sau giám định có khối lượng: 0,7242gam
Tại bản cáo trạng số: 121/CT.VKSNT ngày 28/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê M 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 37/KL-KTHS ngày 10/01/2025 có dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ).
Đối với người tên L2 đã bán ma túy cho Lê M chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Lê Minh K tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Lê M (sinh ngày 11/12/1994) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 05/01/2025, Lê M đã có hành vi mua của một người tên L2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) 500.000 đồng ma túy đá, loại Methamphetamine tại khu vực gần phà C, thuộc ấp C, xã P, huyện N cất vào trong túi áo khoác rồi thuê xe ôm đi về. Đến lúc 17 giờ 20 phút, cùng ngày khi đến hẻm thuộc ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang.
Lời thừa nhận của bị cáo Lê M phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Lê Minh tàng T theo Kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ có khối lượng 0,7528gam, loại: Methamphetamine và hành vi phạm tội của bị cáo Lê M đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Lê M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Lê Minh L3 có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tiền án: Không có; Tiền sự: Ngày 19/9/2024, bị công an xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 16/10/2024, bị Ủy ban nhân dân xã V ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 296/QĐ-UBND trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 18/9/2024.
Tội phạm do bị cáo Lê M thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương; bị cáo biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện. Mặt khác bị cáo từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, do đó cần xét xử nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận. [4]. Về xử lý vật chứng: 0,7242 gam ma túy, loại Methamphetamine (được niêm phong số 37/KL-KTHS ngày 10/01/2025 có dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ) bị cáo tàng trữ trái phép, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
Đối với người tên L2 bán ma túy cho M, hiện chưa rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê Minh P chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Lê M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lê Minh 0 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu 0,7242 gam ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (được niêm phong số 37/KL-KTHS ngày 10/01/2025 có dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ) tiêu hủy.
Theo biên bàn giao nhận vật chứng ngày 10/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Minh P chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Lưu HS, VP | (Đã ký) Trần Nguyên Vũ |