vanban.org

Bản án 119/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 08/08/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Phạm Văn N 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn N "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Bản án số:119/2019/HSPT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 08 - 8 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiến

Các Thẩm phán:

Ông Tạ Quốc Việt

Ông Huỳnh Ngọc Thiện

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Lá, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2019/HSPT ngày 08/7/2019 đối với bị cáo Phạm Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HSST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị cáo kháng cáo: Phạm Văn N (Tùng), sinh năm 1999 tại Nam Định; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12. Cha: Phạm Văn T, sinh năm 1972; Mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt: 20/12/2018 (Có mặt tại phiên tòa).

Bị cáo không kháng cáo, không triệu tập: Dương Mạnh H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HSST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Mạnh H và Phạm Văn N là bạn bè, đều là những người sử dụng ma túy (hàng đá). Do cần mua ma túy đá để sử dụng, vào khoảng 14 giờ ngày 18/12/2018, H và N bàn bạc thống nhất góp tiền để mua ma túy sử dụng chung. H góp 2.500.000đ, N góp 2.500.000đ được số tiền 5.000.000đ. Sau đó Dương Mạnh H liên hệ thanh niên tên H (chưa rõ lai lịch) qua mạng xã hội hỏi mua ma túy và hẹn đến nhà nghỉ “H Y” thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L để giao nhận ma túy. Khoảng 30 phút sau, H cùng một phụ nữ (không rõ lai lịch) đến phòng số 02 nhà nghỉ “H Y” gặp Dương Mạnh H và N giao 01 gói ma túy và nhận 5.000.000đ. Sau khi bán ma túy, H cùng người phụ nữ bỏ đi. Lúc này, Dương Mạnh H và N lấy một ít ma túy trong gói ma túy vừa mua được ra sử dụng. Số ma túy còn lại, Dương Mạnh H cất giấu trong bóp da của mình. Đến 00 giờ 40 phút ngày 20/12/2018, khi Dương Mạnh H và N đang ở trong phòng số 02 nhà nghỉ “H Y” thì lực lượng công an thị trấn L vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói ma túy cất giấu trong bóp da để trong túi quần của Dương Mạnh H đang mặc.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon trong suốt, kích thước 6,5 x 06cm, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể rắn trong suốt, không màu, sau khi gửi giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã niêm phong vụ số 370 ngày 28/12/2018; 03 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại hiệu Nokia, màu vàng –đen, số IMEI: 357341081155332; 01 điện thoại hiệu Samsung, màu trắng, số IMEI: 357538064616558 và 01 điện thoại Samsung màu đen, số IMEI: 359051094598398; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 chai nhựa được dán nhãn Pepsi-Cola màu trắng, nắp chai được đục lỗ và có gắn 01 ống hút bằng nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh) và số tiền 2.100.000đ. Hiện số vật chứng trên đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện L quản lý, chờ xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số 370/GĐMT –PC09 (Đ4) ngày 28/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an thị trấn L-Công an huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Lê Quốc Kế, Dương Văn Tuân, Dương Mạnh H, Phạm Văn N, Phạm Khải Quốc, Lê Duy Đông, gửi đến giám định có khối lượng 7,7484 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HSST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:

1-Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N (Tùng) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015

Xử phạt: Phạm Văn N 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2018.

Án sơ thẩm cũng xử phạt Dương Mạnh H 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/6/2019, Phạm Văn N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện L với lý do: Cảm thấy mức án mà Tòa án sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là nặng, xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với nội dung trên; đồng thời cho rằng, bị cáo mới chỉ lần đầu sử dụng ma túy, do Dương Mạnh H rủ rê, và không phải là người trực tiếp liên hệ mua ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã phân tích, kết luận toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho rằng, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Đơn kháng cáo của Phạm Văn N gửi trong thời hạn quy định nên hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của đồng phạm Dương Mạnh H và vật chứng đã thu giữ. Có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 40 phút ngày 20/12/2018, tại phòng số 02 nhà nghỉ “H Y” thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Cơ quan công an đã bắt quả tang và thu giữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 7,7484 gam, cất giấu trong bóp da để trong túi quần Dương Mạnh H đang mặc. Số ma túy này được Dương Mạnh H và Phạm Văn N bàn bạc cùng góp tiền mua về, cùng tàng trữ, cùng sử dụng chung. Do đó, án sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.

. Xét án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết “bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ. Án sơ thẩm cũng đã xét bị cáo “Phạm tội lần đầu” để áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ thêm một phần hình phạt là đã có chiếu cố xem xét đối với các bị cáo.

. Xét khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 7,7484 gam, thì hình phạt mà án sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng -Nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phạm Văn N 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2018.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 47/2019/HSST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện L không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ