vanban.org

Bản án 119/2025/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/06/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Thanh D, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thanh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 46, 47 Bộ luật Hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phung Thanh D bị xét xử về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Thanh D, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2025/HS-PT
Ngày: 27-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vân

Các Thẩm phán:

Ông Võ Ngọc Giàu;

Bà Nguyễn Ái Đoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 80/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Phùng Thanh D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phùng Thanh D, sinh ngày 14/02/1984 tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Thanh V (1964) và bà Phạm Ngọc L (1966, đã chết); Vợ Trương Thị Thúy H (1990); Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* Ngoài ra trong vụ án còn có 05 người đại diện hợp pháp bị hại Trần Thị N, 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo. Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Thanh Duy được Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp giấy phép lái xe hạng E có giá trị đến 02/10/2024, là tài xế lái xe ô tô chở khách cho nhà xe “Ty” do Đỗ Hữu C, sinh năm 1973, nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang làm chủ.

Khoảng 19 giờ, ngày 13/7/2024, Phùng Thanh D điều khiển xe ô tô khách biển số 67B-009.88 chở 45 hành khách theo lịch trình từ Bến xe B, tỉnh Bình Dương về Bến xe K, huyện A, tỉnh An Giang. Đến khoảng 23 giờ 55 phút cùng ngày, D điều khiển xe ô tô khách biển số 67B-009.88 lưu thông trên Cao tốc T

- M theo hướng T đi M, khi đến đoạn Km 90+400m thuộc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, do D không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đã đụng vào phía sau bên phải xe ô tô biển số 60A-555.67 do Nguyễn Văn C1, sinh năm 1978, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận điều khiển đang dừng trên làn đường sát dãy phân cách cứng và bật tín hiệu đèn khẩn cấp do bị sự cố kỹ thuật về hệ thống lái không di chuyển được, trên xe có chở 05 hành khách, 02 xe ô tô tiếp tục di chuyển một đoạn khoảng 40m thì xe ô tô 60A-555.67 dừng lại, xe ô tô 67B-009.88 do D điều khiển tiếp tục di chuyển thêm 5m thì dừng hẳn. Hậu quả làm bà Hoàng Thị Phương H1, sinh năm 1977, nơi cư trú: Phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; bà Trần Thị N, sinh năm 1942, ông Trần Trung D1, sinh năm 1972, cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An tử vong; ông Hoàng Minh H2, sinh năm 1981, nơi cư trú: Số E, đường N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định và bà Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1977, nơi cư trú: Ấp P, xã C, huyện P, tỉnh An Giang bị thương; hư hỏng 02 xe ô tô biển số 67B-009.88 và 60A-555.67.

* Theo sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xác định:

Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại Cao tốc T - M, đường trãi nhựa, dạng thẳng, bằng phẳng, ở giữa có dãy phân cách cứng chia đường thành hai chiều xe lưu thông. Phần đường hướng T đi M (nơi xảy ra tai nạn) có hai làn đường xe lưu thông, làn đường rộng 6,65m. Chọn hướng T đi M làm hướng chính. Chọn vạch sơn kẻ đường sát dãy phân cách cứng làm mép chuẩn. Gọi “A” Km 90 +400m trên dãy phân cách cứng làm mốc chuẩn.

Khám nghiệm chi tiết hiện trường ghi nhận vị trí phương tiện, dấu vết, chiều hướng đo được như sau:

Số 1: Vị trí mảnh kính vỡ kích thước (0,33x0,33)m, mảnh kính vỡ tại mép chuẩn, từ tâm mảnh kính vỡ đến mốc chuẩn “A” là 0,75m.

Số 2: Vùng chà sát cao su, vùng cày để lại trên mặt đường có kích thước (42,7x 1,9)m, dạng cong không liên tục, từ điểm đầu vùng chà sát cao su kéo vuông góc vào mép chuẩn là 2m và đến điểm đầu vùng cày là 1,4m, từ điểm đầu vùng cày kéo vuông góc vào mép chuẩn là 1,5m, điểm cuối vùng chà sát cao su, vùng cày kết thúc ở trục trước bên phải xe ô tô biển số 60A-555.67.

Số 3: Vùng cày và vùng màu đen trên dãy phân cách cứng có kích thước (30,2x0,9)m, từ điểm đầu vùng cày và vùng màu đen đến điểm đầu vùng chà sát cao su, vùng cày là 4,2m, điểm đầu vết cao cách mặt đường 0,25m, điểm cuối vết cao cách mặt đường 0,76m.

Số 4: Vết chà sát cao su để lại trên mặt đường có kích thước (7,3x0,18)m, vết nằm trên mép chuẩn, từ điểm cuối vết đến trục sau bên phải xe ô tô biển số 60A-555.67 là 6,75m và đến điểm cuối vùng cày và vùng màu đen trên dãy phân cách cứng là 2,5m.

Số 5: Vết cày và vết loang dầu nhớt để lại trên mặt đường có kích thước (6,1x0,2)m, từ điểm đầu vết kéo vuông góc vào mép chuẩn là 2,1m, điểm cuối vết kết thúc ở trục sau bên phải xe ô tô biển số 60A-555.67, vết dạng thẳng không liên tục.

Số 6: Vị trí xe ô tô biển số 60A-555.67 sau tai nạn, đầu xe quay vào lề đường bên phải theo hướng đi chính, đuôi xe quay vào dãy phân cách cứng, từ trục sau bên phải kéo vuông góc vào mép chuẩn là 0,25m, từ trục sau bên trái kéo vuông góc vào mép chuẩn là 0,3m.

Số 7: Vị trí xe ô tô khách biển số 67B-009.88 sau tai nạn, đầu xe quay về hướng M, đuôi xe quay về hướng T, từ trục trước kéo vuông góc vào mép chuẩn là 3,9m, từ trục sau bên trái kéo vuông góc vào mép chuẩn là 3,8m và đến trục trước bên trái xe ô tô biển số 60A-555.67 là 8,8m.

* Khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 67B-009.88 ngày 14/7/2024 ghi nhận: Cần gạt nước bên trái gãy; kính chắn gió bên phải nứt, bể kích thước (44x22)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 182cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 140cm; Ga lăng xước kích thước (54x34)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 123cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 87cm; Mặt nạ bên trái xước, bể kích thước (80x26)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 140cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 92cm; cản trước bên trái xước, bể kích thước (64x60)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 91cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 40cm; kính chắn gió bên trái nứt, bể kích thước (150x120)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 2,15m, điểm thấp nhất cách mặt đường 130cm; cụm đèn đầu xe bên trái bị vỡ hoàn toàn; cột chữ “A” đầu xe bên trái bị cong vẹo theo hướng từ trước ra sau; ốp sườn trước bên trái trầy, xước, bung hở vỡ kính hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào trong; kính chắn gió khoan lái bên trái vỡ; ốp thành xe bên trái ngay nắp bình dầu bung hở xước hướng từ trước ra sau; ốp thành xe bên trái ngay bánh trước bung hở; ốp thành xe bên trái ngay cửa thùng hàng thứ 3 từ trước ra sau có vết trầy xước kích thước (53x19)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 46cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 24cm, cách trục sau 155cm; ốp thành xe bên trái có vết xước cong vênh kích thước (74x53)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 108cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 59cm, điểm cuối vết cách trục sau 100cm; ốp thành xe bên trái ngay má vào ốp hốc gió điều hòa có cắm thanh kim loại cong vênh biến dạng cách thành sau xe 100cm; ốp thành xe bên trái ngay đuôi đèn có vết trầy xước kích thước (46x15)cm, điểm cao nhất cách mặt đường 95cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 81cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống đèn, còi, phanh còn hoạt động.

* Khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 60A-555.67 ngày 14/7/2024 ghi nhận: Kính chắn gió bể; nắp ca bô lõm móp, cong vênh bung hở; cản trước xước kích thước (150x36)cm, cong vênh, điểm cao nhất cách mặt đường 95cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 57cm; ga lăng rời khỏi vị trí thiết kế; mốc cửa hộ phía trước bên trái cong từ trên xuống dưới, đầu mốc có vết trầy xước kích thước (4x2)cm, cách mặt đường 37cm; cụm đèn trước bên trái bung vỡ hoàn toàn; trục trước bên trái bị xô lệch chếch về hướng bên trái; bánh xe trước bên trái có vết chà sát cao su mặt lăn và mặt bên; ốp hốc bánh xe trước bên trái bị rách, lõm móp, bung vỡ; khoan chữ “A” phía dưới bên trái cong vênh biến dạng; cửa trước bên trái bị xê dịch rời khỏi vị trí thiết kế ban đầu; toàn bộ ghế phía trước, phía sau xê dịch khỏi vị trí ban đầu; bậc bước chân bên trái bị bung rời, lõm móp; khung sườn xe bị biến dạng hoàn toàn không giữ nguyên tình trạng ban đầu; trần (mái) bị biến dạng, lõm móp; ốp sườn sau bên trái ngay hốc bánh sau bị trầy xước, biến dạng, cong vênh, kính bể; cụm đèn sau bên trái vỡ nát bung hở rời khỏi vị trí thiết kế ban đầu; ốp hốc bánh xe trước bên phải trầy xước; bánh xe trước bên phải mặt lăn có vết chà sát sao su; cụm đèn trước bên phải xê dịch rời khỏi vị trí thiết kế; cửa trước bên phải bị xê dịch rời khỏi vị trí thiết kế ban đầu, kính bể; cửa sau bên phải bị xê dịch cong vênh biến dạng, rách xê dịch, rách rời khỏi vị trí thiết kế ban đầu, kính bể; bậc lên xuống bên phải bị cong vênh trầy xước; bánh xe sau bên phải bung nổ trầy xước; khu vực phía sau (cóp, trần, đèn, cản) bị rách, nhào nát biến dạng hoàn toàn; trục sau bên phải gãy nhiếp lệch khỏi vị trí ban đầu.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hư hỏng không kiểm tra được.

* Theo Kết luận giám định tử thi số 227-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 14/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Trần Thị N chết do đa thương. Vỡ mặt hoành và mặt tạng gan phải. Gãy xương sườn 6, 7 bên phải và 6, 7, 8, 9 bên trái. Tụ máu mặt sau xương ức. Tụ máu phúc mạc sau hai bên. Gãy xương đùi trái do tai nạn giao thông.

* Theo Kết luận giám định tử thi số 228-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 14/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Trần Trung D1 chết do chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện toàn bộ hai bán cầu đại não. Xuất huyết hai bán cầu tiểu não. Xuất huyết thân não. Dập não trán thái dương trái. Vỡ sàng sọ do tai nạn giao thông.

* Theo Kết luận giám định tử thi số 229-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 14/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Hoàng Thị Phương H1 chết do đa thương. Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới nhện toàn bộ hai bán cầu đại não. Gãy xương sườn 5, 6, 7, 8, 9 bên phải. Tụ máu mặt sau xương ức. Dập phổi phải do tai nạn giao thông.

* Theo Kết luận giám định số 4524/KL-KTHS ngày 29/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận tình trạng kỹ thuật của xe ô tô biển số 60A-555.67 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông. Hệ thống lái: Không đảm bảo an toàn kỹ thuật, nguyên nhân là do rotuyn lái ngoài của bánh xe trục 1 bên trái bị gãy gây mất hiệu lực lái. Hệ thống ga: Các khâu khớp của hệ thống ga đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, liên kết chắc chắn. Dầu ly hợp không đủ, dầu bị biến đổi màu sắc. Không đủ cơ sở xác định hiệu lực hệ thống ga do xe ô tô bị hư hỏng không thể thực nghiệm.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 90/KLĐG-TTHS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị xe ô tô biển số 60A-555.67 trước khi xảy ra tai nạn trị giá 162.000.000 đồng, sau khi xảy ra tai nạn trị giá 40.000.000 đồng.

* Đối với thương tích của ông Hoàng Minh H2 và bà Nguyễn Thị Bé B: Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, ông H2 đến Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng thành phố Hồ Chí Minh điều trị thương tích từ ngày 23/7/2024 đến ngày 29/7/2024, bà B đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T điều trị thương tích từ ngày 14/7/2024 đến ngày 26/7/2024. Tuy nhiên, ông H2 và bà B đã có đơn xin từ chối giám định thương tích.

* Theo Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 14/7/2024 của Nguyễn Văn C1 là 0,000 mg/l.

* Theo Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 14/7/2024 của Phùng Thanh D là 0,000 mg/l.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Luật Giao thông đường bộ và khoản 8 Điều 5, Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thanh D đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Phùng Thanh D 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 08/4/2025, bị cáo Phùng Thanh D kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, với lý do bị cáo đã chi trả toàn bộ chi phí điều trị và bồi thường cho gia đình các bị hại với số tiền 640.000.000 đồng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị hại có đơn xin bãi nại; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn về kinh tế; phạm tội do lỗi vô ý và xe va chặm gặp sự cố kỹ thuật.

Tại phiên tòa: Bị cáo Phùng Thanh D vẫn giữ nguyên nội dung trong đơn kháng cáo.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm cho rằng đơn kháng cáo của Bị cáo Phùng Thanh D trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết.

Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Thanh D cùng với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt bị cáo 08 năm tù là phù hợp, đồng thời bị cáo D cũng không cung cấp thêm tình tiết giam nhẹ mới nào để xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Nội dung kháng cáo:

- Đơn kháng cáo của bị cáo Phùng Thanh D là trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Thanh D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Khoảng 23 giờ 55 phút ngày 13/7/2024, bị cáo D điều khiển xe ô tô khách biển số 67B-009.88 chở 45 hành khách lưu thông trên Cao tốc T - M theo hướng T đi M, khi đến đoạn Km 90+400m thuộc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đã đụng vào phía sau bên phải xe ô tô biển số 60A-555.67 do Nguyễn Văn C1, sinh năm 1978, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận điều khiển đang dừng trên làn đường sát dãy phân cách cứng và bật tín hiệu đèn khẩn cấp do bị sự cố kỹ thuật về hệ thống lái không di chuyển được, trên xe có chở 05 hành khách. Sau khi va chạm 02 xe ô tô tiếp tục di chuyển một đoạn khoảng 40m thì xe ô tô 60A-555.67 dừng lại, xe ô tô 67B-009.88 do D điều khiển tiếp tục di chuyển thêm 5m mới dừng hẳn. Hậu quả làm chết 03 người gồm bà Hoàng Thị Phương H1, bà Trần Thị N, ông Trần Trung D1. Làm bị thương 02 người là ông Hoàng Minh H2, bà Nguyễn Thị Bé B. Ngoài còn gây thiệt hại về tài sản cho 02 xe ô tô biển số 67B-009.88 và 60A-555.67. Khoản 8 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về các trường hợp phải giảm tốc độ như sau: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: “8. Tránh xe chạy ngược chiều hoặc khi cho xe chạy sau vượt; khi có tín hiệu xin đường, tín hiệu khẩn cấp của xe đi phía trước”. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Xét yêu cầu này, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các qui định trật tự an toàn công cộng cụ thể là không chấp hành đúng luật giao thông đường bộ, đã gây ra hậu quả nghiêm trọng làm chết người, xâm phạm trực tiếp đến tài sản và sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Gây ra mất mát đau thương không thể khắc phục và không có gì có thể bù đắp được cho gia đình bị hại. Hiện nay tội phạm này đã và đang gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn cho xã hội về người và tài sản gây ra bức xúc trong dư luận quần chúng. Khung hình phạt đối với tội phạm này cũng rất nghiêm khắc. Tuy nhiên khi xét xử một số trường hợp vẫn còn nặng về lỗi vô ý cho hưởng án treo nên không phát huy được tính răn đe phòng chống chung. Trong vụ án này bị cáo hoàn toàn có lỗi, làm chết nhiều người nên cần phải cách ly bị cáo một thời gian để cảnh tỉnh răn đe phòng chống chung cho toàn xã hội. Do đó không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Về mức án bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và một tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là người bị hại có đơn xin bải nại và giảm nhẹ cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt lần đầu phạm tội. Tuy nhiên xét hành vi của bị cáo gây ra hậu quả cho xã hội là rất lớn, chết đến 03 người. Đây là hậu quả mà không ai có thể khắc phục được hoàn toàn. Ngoài ra còn gây thiệt hại về sức khỏe của 02 người khác và thiệt hại về tài sản là 122.000.000 đồng. Khung hình phạt truy tố bị cáo từ 7 đến 15 năm tù, cấp sơ thẩm căn cứ tình tiết giảm nhẹ, nhân thân như trên xử phạt bị cáo mức án chỉ 8 năm là phù hợp. Do đó không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Thanh D, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thanh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 46, 47 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phùng Thanh D 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của Quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ