- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Ngô Thị A: BĐ: Nguyễn Tuấn K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Ngô Thị A đối với bị đơn anh Nguyễn Tuấn K. Chị A được ly hôn với anh K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 5 - 2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thiều Thị Phi Loan;
2. Ông Trần Văn Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 187/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị A, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: B, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: F, tổ A, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tuấn K tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 01 năm 2012, tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 người con. Nhưng từ cuối năm 2016, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tình cảm và tiền bạc, quan điểm sống của vợ chồng không đồng nhất nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột và không tôn trọng nhau. Vì vậy, đời sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2012 và cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2015. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả 02 con chung; tạm thời không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
- Về tài sản chung: Chị và anh K không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Chị và anh K không có nợ chung.
Bị đơn anh Nguyễn Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị A được ly hôn với anh K; Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2012 và cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2015 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết sau nếu các đương sự có yêu cầu; Về án phí sơ thẩm: Chị A phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Chị Ngô Thị A có đơn yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K, địa chỉ cư trú: F1/1/KTĐC, tổ A, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và yêu cầu Tòa án xác định người trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn. Căn cứ theo quy định tại các điều 28, 35, 39 và 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, chị A được xác định là nguyên đơn, anh K được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự:
Nguyên đơn chị Ngô Thị A đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị A, anh K theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh K tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06/KH ngày 13 tháng 01 năm 2012 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các điều 9, 11 và 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nay là các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Theo lời khai của chị A trong quá trình giải quyết vụ án: Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung. Nhưng từ cuối năm 2016, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tình cảm và tiền bạc, quan điểm sống của vợ chồng không đồng nhất nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột và không tôn trọng nhau. Vì vậy, đời sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Chị xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Xét thấy, tại biên bản xác minh ngày 26 tháng 02 năm 2025, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác định không biết về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị A, anh K do các đương sự không trình báo địa phương giải quyết. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định cho anh K nhưng anh K không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa. Việc này thể hiện anh K đã không còn quan tâm và không muốn hàn gắn, hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ. Mâu thuẫn giữa chị A và anh K là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh K.
Về con chung: Chị A xác định chị và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2012 và cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2015. Khi ly hôn, chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả 02 con chung; tạm thời không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Xét thấy, các con chung hiện nay đang sống cùng với chị A, được chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và các con chung đều có nguyện vọng được sống cùng với chị A sau khi ly hôn; đồng thời chị A có thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Vì vậy, để tránh ảnh hưởng đến tâm sinh lý, sự phát triển của con chung nên Hội đồng xét xử giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2012 và cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2015 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A xác định chị và anh K không có tài sản chung và không có nợ chung; anh K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có lời khai nên không đủ cơ sở xác định đối với phần tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này và tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi các đương sự có yêu cầu đối với phần tài sản chung, nợ chung.
Về án phí: Chị Anh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 68, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các điều 9, 11, 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các điều 8, 9, 51, 56, 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật số: 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Ngô Thị A đối với bị đơn anh Nguyễn Tuấn K. Chị A được ly hôn với anh K.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2012 và cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2015 cho chị Ngô Thị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; anh Nguyễn Tuấn K tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005730 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Biên Hòa; - Chi cục THADS TP. Biên Hòa; - UBND P. Tân Biên; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Bảo |