- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Công Trường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 119/2024/HSST Ngày: 06-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC,
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trần Hiển
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Mến
2. Ông Văn Phú Hiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Ông Cù Hoàng Vũ- Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Công T, sinh năm 2001 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công Đ, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị bắt ngày 30/7/2024, có mặt
Người chứng kiến: Ông Hoàng P, sinh năm 1997, vắng mặt
Trú tại: Ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 21/6/2024, Công an xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đi tuần tra, khi đến khu vực ấp C, xã B, huyện X phát hiện Lê Công T có biểu hiện nghi vấn cất giấu ma túy nên yêu cầu giao nộp, T lấy trong túi quần ra 02 gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu, trong suốt ra nộp và khai là ma túy đá mua của một người tên P1 (không rõ lai lịch) với giá 400.000 đồng để về sử dụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Công T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về kết luận giám định: Tại Bản kết luận giám định số 417/KL-KTHS-MT ngày 28/6/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu-trong suốt chứa trong 02 gói nylon được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng có in hình dấu Công an xã B-Công an huyện X, cùng chữ ký ghi rõ họ tên Trịnh Xuân B, Hoàng P, Lê Công T, Phạm Hoài K gửi đến giám định có khối lượng 0,1507 gam là ma túy, loại Methamphetamine (bút lục số 28).
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 417, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A7, vỏ xanh đã qua sử dụng, sim số 0364207635 hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang tạm giữ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo yêu cầu xử lý vật chứng theo quy định của nhà nước.
Tại Bản cáo trạng số 123/CT-VKS-XM, ngày 12-11-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Lê Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 417, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A7, vỏ xanh đã qua sử dụng, sim số 0364207635 là công cụ, phương tiện phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Công T: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về gia đình, tái hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, xét thấy: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 21/6/2024, Công an xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đi tuần tra đến khu vực ấp C, xã B, huyện X phát hiện bị cáo T cất giấu trong túi quần 02 gói ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1507 gam. Hành vi bị cáo cất giấu ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến công tác quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, bị cáo không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự và không xử phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 417, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và không có giá trị; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A7, vỏ xanh đã qua sử dụng, sim số 0364207635 là công cụ, phương tiện phạm tội.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như nhận định, phân tích của Hội đồng xét xử là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Lê Công T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 417, ngày 09/7/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B cùng các chữ ký ghi rõ họ tên: Trung tá Nguyễn D, Hoàng Thị Mai L1, Trịnh Xuân B (hoàn lại sau giám định);
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A7, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 353465103605653, IMEI khe 2 353466103605651 (bị bể màn hình và vỏ); 01 sim số 0364.207.635.
(Toàn bộ vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang tạm giữ Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 20/BB ngày 15/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).
Án phí: Bị cáo Lê Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh BR- VT; Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa - Công an tỉnh BR- VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Xuyên Mộc; - Công an huyện Xuyên Mộc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | Phạm Trần Hiển |