- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị S - Nguyễn Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị S về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2024/HNGĐ-ST. Ngày 11-9-2024. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Minh;
Ông Ngô Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị S, sinh năm 1986 - Xin vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982 - Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị S trình bày:
Chị và anh T chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã A T, huyện Trảng Bàng (nay là phường A T, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại ấp S S, xã A T, huyện Trảng Bàng (nay là khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau do tính tình vợ chồng không phù hợp, anh T không lo kinh tế gia đình, cũng không chăm lo cho vợ con. Vợ chồng ly thân từ tháng 11-2023, anh T đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh đến cuối tuần mới về nhà một lần. Từ khi ly thân, chị và anh T không ai đặt vấn đề đoàn tụ.
Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T1, sinh ngày 01-7-2012 và Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20-11-2018, hiện đang sống chung với chị S. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và cháu V, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, triệu tập anh Nguyễn Ngọc T đến Toà lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh T không đến nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của bị đơn.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị S yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Anh T1, sinh ngày 01-7-2012 và Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20-11-2018 cho chị Lê Thị S tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị S không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A T, huyện Trảng Bàng (nay là phường A T, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 11-2023 đến nay mà không ai đặt vấn đề đoàn tụ. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị S trình bày là do tính tình vợ chồng không phù hợp, anh T không lo kinh tế gia đình, cũng không chăm lo cho vợ con. Qua xác minh tại địa phương nơi chị S và anh T sinh sống không thể hiện được giữa chị S và anh T có mâu thuẫn gì. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh T đến Tòa trình bày ý kiến, tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T đều không đến, chứng tỏ anh T không có thiện chí hàn gắn với chị S. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị S và anh T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị S được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị S và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Anh T1, sinh ngày 01-7-2012 và Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20-11-2018, hiện hai cháu đang sống chung với chị S. Nay chị S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến cháu T1, cháu cũng có nguyện vọng được theo sống với chị S. Cháu V còn nhỏ và là nữ, cần có sự chăm sóc của người mẹ. Từ khi chị S và anh T ly thân, cả hai con chung đều theo sống với chị S, hiện hai cháu đều phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu T1 và cháu V cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị S không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Như phân tích trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án.
Án phí: Chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị S về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.
Chị Lê Thị S được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Anh T1, sinh ngày 01-7-2012 và Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 20-11-2018 cho chị Lê Thị S tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị S không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Lê Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015376 ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chị S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Báo cho chị S, anh T biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND phường A T; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Linh Ngọc |