- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn H- Thiều Thị Cẩm C"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-7-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thái Sơn
Ông Lê Thành Đông
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 194/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/4/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 407/2023/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: số B, khu phố Z, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
2.Bị đơn: Bà Thiều Thị Cẩm C, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: ấp R, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre.
(Ông H, bà C vắng mặt, ông H có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà C tự nguyện kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau dần phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Ông bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng cũng như hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Ông bà đã ly thân hơn một năm nay. Vì vậy, bà xin được ly hôn với bà H.
- Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có hai con chung Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 07/9/2012. Hai con đang sống với bà C. Ông đồng ý giao 02 con cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Do bận công việc nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và H giải, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bà C nhưng bà đều vắng mặt và cũng không gởi bất kỳ văn bản trình bày ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Ông H thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bà C chưa thực hiện đầy đủ tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt không lý do.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H. Về con chung: Đề nghị giao con Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 07/9/2012 cho bà C tiếp tục nuôi. Bà C vắng mặt, không có yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của ông H nhận thấy đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Bị đơn bà C cư trú tại xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn ông H có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn bà C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H và bà C.
[2] Về hôn nhân: Theo bản sao Giấy chứng nhận kết hôn do ông H cung cấp thể hiện Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh chứng nhận kết hôn cho ông H và bà C vào ngày 05/3/2023. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông H cho rằng sau khi kết hôn, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau. Ông bà đã ly thân hơn một năm nay. Hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn nên xin được ly hôn.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên H giải để tạo điều kiện hàn gắn cho anh chị. Bà C đã được triệu tập họp lệ nhưng không đến tham dự phiên H giải và cũng không gởi bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến mong muốn hàn gắn với ông H nên Tòa án không thể tiến hành H giải được.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân bền vững phải xuất phát từ sự tự nguyện và tình cảm thương yêu, mong muốn gắn bó từ cả vợ và chồng. Quá trình chung sống, ông bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm đến nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai mong muốn hàn gắn. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 07/9/2012. Hai con hiện đang sống chung với bà C. Ông H đồng ý giao hai con chung cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng. Yêu cầu này của ông H cũng phù hợp với nguyện vọng em Thiện và em Trâm mong muốn được tiếp tục sống với mẹ. Bà C vắng mặt không có ý kiến gì về cấp dưỡng, nếu sau này có yêu cầu được quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[4] Ông H trình bày tài sản, nợ chung không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà C vắng mặt, không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Ông H phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, cụ thể tuyên:
[1] Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Thiều Thị Cẩm C.
[2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 07/9/2012 cho bà Thiều Thị Cẩm C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ghi nhận bà Thiều Thị Cẩm C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ nộp án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004954 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ghi nhận ông H đã nộp xong án phí.
[5] Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - Các đương sự; - UBND xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Ngoan |