vanban.org

Bản án 119/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lầu Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lầu Thị L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/02/2023). Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon mày hồng, 01 túi vải. Trả lại cho bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lầu Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 119 /2023/HSST
Ngày: 31 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Hà

2. Bà Tạ Thị Nành

- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số: 120/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lầu Thị L; Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 01/01/1972 tại tỉnh B.

Nơi cư trú: Bản Lọng Nghịu, xã M, thành phố Đ, tỉnh B.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 0/12 phổ thông; Con ông: Lầu A P (Đã chết); Con bà: Cứ Thị K (Đã chết); Chồng: Vàng A N, con: Có 07 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 17/02/2023, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt).

- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Vừ A T; Địa chỉ: Tổ 02, xã T, thành phố Đ, tỉnh B;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/02/2023, trên đường đi làm về đến khu vực bản C, xã M, thành phố Đ, bị cáo Lầu Thị L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 cục ma túy, với giá 100.000 đồng. Sau khi mua xong, bị cáo L nhặt một mảnh nilon màu hồng ở dưới đường gói số ma túy lại, mang về cất giấu dưới đệm trên giường ngủ của mình. Đến khoảng 10 giờ ngày 17/02/2023 có người nam thanh niên đến hỏi mua 100.000 đồng ma túy, bị cáo đồng ý bán, bị cáo nhận số tiền 100.000 đồng và cấu ra một ít để bán, sau đó gói số ma túy còn lại cầm vào trong lòng bàn tay trái lên giường ngủ. Đến 10 giờ 30 phút ngày 17/02/2023 thì tổ công tác Công an thành phố Đ làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lọng Nghịu, xã M đã vào nhà kiểm tra, bị cáo tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy còn lại. Bị cáo khai mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 30 phút, ngày 17/02/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất bột thể rắn màu trắng đục thu giữ của Lầu Thị L gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,11 gam.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS-TPĐBP ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lầu Thị L về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lầu Thị L về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 28 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi vải, Trả lại số tiền 100.000 đồng cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 17/02/2023, tại bản Lọng Nghịu, xã M, thành phố Đ, bị cáo Lầu Thị L đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,11 gam Heroine, mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 45 phút ngày 17/02/2023, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 30 phút, ngày 17/02/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B.

Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi cất giấu trái phép trên người 0,11 gam Heroine của bị cáo mục đích để sử dụng và bán kiếm lời là phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản L của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52/BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

. Từ những phân tích trên khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B truy tố bị cáo Lầu Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng và bán lẻ kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã cất giấu, thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS, thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là mua của một người đàn ông không quen biết, người đàn ông mua ma túy của bị cáo, bị cáo cũng không biết họ, tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Vật chứng: Đối với 0,05 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi vải, là vật không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng bị cáo khai do bán ma túy cho người đàn ông không quen biết mà có. Tuy nhiên ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh số tiền này do bị cáo phạm tội mà có, nên cần trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS

- Tuyên bố bị cáo Lầu Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo Lầu Thị L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/02/2023).

2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon mày hồng, 01 túi vải. Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2023 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 31/5/2023).

Cỡ chữ