vanban.org

Bản án 119/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị H đối với ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: bà Mai Thị H đƣợc ly hôn ông Nguyễn Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2015, quyển số 01/2015 ngày 14/9/2015 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Bình Phƣớc cấp). Về con chung: ông Nguyễn Văn T giao con chung Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/7/2016 cho bà Mai Thị H đƣợc quyền tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị H-Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị H đối với ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 119/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05-9-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Bửu Huệ và ông Phạm Tú Nhi

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hoài Phƣơng–Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Trần Trọng An–Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 241/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/6/2023 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 114/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: bà Mai Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ F, ấp B M, C, tỉnh Bình Phƣớc; tạm trú: số C khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: số C khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2022; bản tự khai ngày 14/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Mai Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà Mai Thị H và ông Nguyễn Văn T tự nguyện yêu nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Bình Phƣớc theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2015, quyển số 01/2015 ngày 14/9/2015. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung. Đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T hay đánh bạc, nợ nần, không chăm lo cho vợ con, vợ chồng hay cãi nhau mặc dù cả hai đã cố gắng hòa giải nhƣng không thành. Bà H và ông T đã sống ly thân từ tháng 01/2023. Nay bà H xác định không còn tình cảm với ông T và có đơn khởi kiện ly hôn ông T. Hiện tại, bà H đang làm buôn bán, thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/tháng, còn ông T phụ giúp bà H buôn bán.

Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/7/2016. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu đƣợc quyền nuôi dƣỡng con chung và yêu cầu ông T cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi cháu P đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn ông Nguyễn Văn T: sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà H nhƣng ông Nguyễn Văn T không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhƣng bị đơn vắng mặt không có lý do; đồng thời c ng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà H và ông T do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành ngày 03/7/2023, Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cung cấp thông tin nhƣ sau: bà H không phải là thành viên hội phụ nữ phƣờng. Trƣớc khi khởi kiện ly hôn tại Toà án, bà H không có yêu cầu địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở; Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T c ng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố c ng nhƣ ngƣời dân phản ánh. Vì vậy, Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng không rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Mai Thị H và ông Nguyễn Văn T, đồng thời Hội c ng không tiếp nhận phản ánh từ đại diện khu phố c ng nhƣ ngƣời dân phản ánh về mâu thuẫn giữa hai ngƣời, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thƣ ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Mai Thị H có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã đƣợc Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả các đƣơng sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: bà H và ông T tự nguyện kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phƣớc theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2015, quyển số 01/2015 ngày 14/9/2015 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T hay đánh bạc, nợ nần, không chăm lo cho vợ con, vợ chồng hay cãi nhau mặc dù cả hai đã cố gắng hòa giải nhƣng không thành. Hiện tại, bà H không còn tình cảm với ông T và đã sống ly thân từ tháng 01/2023. Vì vậy, bà H có đơn khởi kiện ly hôn ông T. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng ông T không có mặt và c ng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 việc bà Mai Thị H yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: quá trình chung sống, bà H và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/7/2016. Khi ly hôn, bà H yêu cầu đƣợc quyền nuôi dƣỡng con chung. Xét thấy, cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/7/2016 từ trƣớc đến nay sống cùng với bà H. Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn đƣợc nuôi con chung. Vì vậy, để tạo điều kiện phát triển về mọi mặt và tránh làm xáo trộn cuộc sống ổn định của cháu P nên cần giao cháu P cho bà H chăm sóc, nuôi dƣỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về vấn đề cấp dƣỡng nuôi con: bà Mai Thị H yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Theo bà H khai, bà H đang buôn bán, thu nhập mỗi tháng khoảng 5.000.000 đồng, ông T phụ giúp bà H buôn bán. Ông T không có ý kiến gì về yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con của nguyên đơn. Do đó, cần buộc ông T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi mỗi ngƣời con mỗi tháng 2.000.000 đồng để đảm bảo cho nhu cầu, sự phát triển của các cháu và c ng phù hợp với thu nhập của ông T và kinh tế tại địa phƣơng.

Về tài sản chung, nợ chung: quá trình giải quyết vụ án, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: bà H phải chịu theo quy định của pháp luật, ông T phải chịu án phí cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị H đối với ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: bà Mai Thị H đƣợc ly hôn ông Nguyễn Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2015, quyển số 01/2015 ngày 14/9/2015 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Bình Phƣớc cấp).

Về con chung: ông Nguyễn Văn T giao con chung Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/7/2016 cho bà Mai Thị H đƣợc quyền trực tiếp nuôi dƣỡng.

Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng kể từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi cháu Nguyễn Thiên P đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bà Mai Thị H có yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn T chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nêu trên thì hàng tháng ông Nguyễn Văn T còn phải trả cho bà Mai Thị H khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Ông Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Trƣờng hợp ông Nguyễn Văn T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì bà Mai Thị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Nguyễn Văn T. Vì quyền lợi hợp pháp của con, việc cấp dƣỡng nuôi con, thay đổi ngƣời nuôi con sẽ đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: bà Mai Thị H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Mai Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006546 ngày 16/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con chung.

Bà Mai Thị H và ông Nguyễn Văn T đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ