vanban.org

Bản án 119/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 08/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Hồng M.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Hồng M được ly hôn chị Vũ Thị L. Về con chung: Giao con chung Phan Ngọc Kim Kh, sinh ngày 10/12/2005 và Phan Ngọc Thuỷ, sinh ngày 02/10/2012 cho anh Phan Hồng M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của phá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Hồng M - Vũ Thị L ly hôn và tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Hồng M.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:119/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08-6-2023
V/v ly hôn, tranh chấp vê nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Phích

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Huy Du

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai Phương-Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phan Hồng M, sinh năm 1977; nơi ở: Số nhà 26, tổ 1,

khu 1, phường Hà Tr, thành phố Hạ L, tỉnh Quảng N; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1979; ĐKHKTT: Thôn Đoan X 2, xã Đoàn X, huyện Kiến Th, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú Đài L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 02 năm 2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là anh Phan Hồng M trình bày:

Anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L quen biết, tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thái Ph, huyện Thái Th, tỉnh Thái Bình ngày 25 tháng 02 năm 2005. Sau khi kết hôn, anh Minh và chị Len ở với bố mẹ chị Len tại Kiến Thuỵ một thời gian, sau đó về Quảng Ninh sinh sống. Quá trình chung sống hoà thuận, hạnh phúc được hơn 11 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, lối sống, dẫn thường xuyên cãi vã. Đến đầu năm 2017, chị Len đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, mặc dù hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Đến năm 2018 chị Len đã bỏ đi đâu và làm gì mà không nói gì với anh Minh. Qua thông tin của những người thân trong gia đình chị Len, anh Minh được biết hiện nay chị Len đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Đến nay, anh Minh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên anh đã có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị L.

Về con chung: Quá trình chung sống anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L có 02 con chung là Phan Ngọc Kim Kh, sinh ngày 10/12/2005 và Phan Ngọc Thuỷ, sinh ngày 02/10/2012. Sau khi chị Len đi Đài Loan, các con chung ở với anh Minh, sức khỏe bình thường. Khi ly hôn, anh Minh đề nghị được nuôi dưỡng hai con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh Minh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Phan Hồng M không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn chị Vũ Thị L hiện đang ở nước ngoài. Nguyên đơn anh Phan Hồng M chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của chị Len mà không cung cấp được địa chỉ của chị Len ở nước ngoài. Thông qua bố đẻ của chị Len được biết chị Len vẫn liên lạc với bố mẹ ở trong nước và chị Len đồng ý ly hôn với anh Minh nhưng không cung cấp địa chỉ cho bố chị Len nên bố của chị Vũ Thị L không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị Vũ Thị L cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị Len để gửi lời khai về cho Tòa án. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho Vũ Thị L theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, anh Phan Hồng M vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với chị Vũ Thị L. Anh Phan Hồng M vắng mặt và không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn anh Phan Hồng M và bị đơn là chị Vũ Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, anh Phan Hồng M có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Vũ Thị L vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử vắng mặt anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận cuộc sống vợ chồng của anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L không có hạnh phúc, hiện mỗi người sống một nước, không có khả năng đoàn tụ, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Hồng M.Về con chung: Anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L có 02 con chung là Phan Ngọc Kim Kh, sinh ngày 10/12/2005 và Phan Ngọc Thuỷ, sinh ngày 02/10/2012. Từ khi vợ chồng sống ly thân các con chung ở với anh Minh, chị Len vẫn đang ở nước ngoài. Vì vậy, cần giao con chung Phan Ngọc Kim Kh và Phan Ngọc Thuỷ cho anh Minh được tiếp tục nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, anh Phan Hồng M không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Anh Phan Hồng M là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các đương sự, quan điểm của Viện Kiểm sát tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Phan Hồng M có đơn khởi kiện về việc ly hôn với chị Vũ Thị L. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Vũ Thị L hiện đang cư trú ở nước ngoài nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Phan Hồng M vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Vũ Thị L hiện đang sinh sống ở nước ngoài, anh Minh chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị Vũ Thị L ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của chị Vũ Thị L ở nước ngoài. Bố đẻ của chị Vũ Thị L xác nhận chị Len vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình và đồng ý ly hôn với anh Minh nhưng không cung cấp địa chỉ cho bố của của chị Len. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bố đẻ của chị Vũ Thị L không cung cấp được địa chỉ, tin tức của anh Phan Hồng M cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị Vũ Thị L biết để gửi lời khai về cho Tòa án nên coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng cho chị Len theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện đã được Uỷ ban nhân dân xã Thái Phúc, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25 tháng 02 năm 2005. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L hiện mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai, không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Phan Hồng M về việc xin ly hôn với chị Vũ Thị L theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L có 02 con chung là Phan Ngọc Kim Kh, sinh ngày 10/12/2005 và Phan Ngọc Thuỷ, sinh ngày 02/10/2012. Sau khi chị Len đi Đài Loan, các con chung ở với anh Minh, sức khỏe bình thường. Xét thấy, cần giao con chung cho anh Minh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Phan Ngọc Kim Kh và Phan Ngọc Thuỷ là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên yêu cầu về nuôi con của anh Minh được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Hồng M không yêu cầu chị Vũ Thị L cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Anh Phan Hồng M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Anh Phan Hồng M là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Anh Phan Hồng M và chị Vũ Thị L được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Hồng M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Hồng M được ly hôn chị Vũ Thị L.

2.Về con chung: Giao con chung Phan Ngọc Kim Kh, sinh ngày 10/12/2005 và Phan Ngọc Thuỷ, sinh ngày 02/10/2012 cho anh Phan Hồng M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Hồng M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Anh Phan Hồng M không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Phan Hồng M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006335 ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Phan Hồng M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Anh Phan Hồng M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Chị Vũ Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Cục THADS thành phố Hải Phòng;

- UBND xã Thái Phúc; huyện Thái Thuỵ; tỉnh Thái Bình;

- Các đương sự (để thi hành);

- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

Phạm Văn Phích THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Minh Nguyệt Đặng Huy Du

Phạm Thị Thanh Bình Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Cục THADS thành phố Hải Phòng;

- UBND xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy;

- Các đương sự (để thi hành);

- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

Phạm Thị Thanh Bình Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Cục THADS thành phố Hải Phòng;

- UBND xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên;

- Các đương sự (để thi hành);

- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

Phạm Văn Phích THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Minh Nguyệt Nguyễn Đức Mạnh

Phạm Văn Phích

Cỡ chữ