vanban.org

Bản án 119/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 28/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Vũ Thị Kim C.

Buộc bà Vũ Thị Kim C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 34.713.118 đồng (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm mười ba nghìn, một trăm mười tám đồng), trong đó: vốn 22.798.580 đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi tám nghìn, năm trăm tám mươi đồng) và lãi tạm tính đến ngày 28/6/2023 là 11.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S + Vũ Thị Kim C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Vũ Thị Kim C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 119/2023/DS-ST
Ngày 28-6-2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Yến

2. Ông Trần Hùng Bích

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Kiều Văn Liêu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long

Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2023/TLST-DS, ngày 11 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2023/QĐXXST-DS, ngày 24 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 218/2023/QĐST-DS, ngày 09/6/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ: phường V, quận X, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám

đốc Ngân hàng TMCP S (Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số xxxxxxxxxx, đăng ký lần đầu ngày 13/01/1992; đăng ký thay đổi lần thứ 38, ngày 27/7/2017 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Toàn T, sinh năm 1989 - Chuyên

viên quản lý nợ Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh An Giang. (Theo giấy ủy quyền ngày 24/3/2023), (Vắng mặt, có đơn xin vắng)

- Bị đơn: Bà Vũ Thị Kim C, sinh năm 1989

Cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ làm việc: phường M1, thành phố L, tỉnh An Giang (Công ty bảo hiểm C). (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết nguyên đơn do ông Chu Toàn T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 04/5/2020, bà Vũ Thị Kim C ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

(bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 14467308/05/2020/AG và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 19.000.000 đồng,lãi suất 2,6%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 26.780.100 đồng và đã thanh toán được cho ngân hàng vốn, lãi, các loại phí là 19.372.905 đồng. Từ ngày 22/5/2022, bà C không còn thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng như nội dung đã cam kết, dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà C cố tình lẫn tránh không thực hiện. Do bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị Kim C phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 28/6/2023 là 34.713.118 đồng, trong đó: vốn 22.789.580 đồng, lãi 11.914.538 đồng, bao gồm: lãi trong hạn 7.943.025 đồng, lãi quá hạn 3.971.513 đồng. Đồng thời, yêu cầu bà C tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 29/6/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn bà Vũ Thị Kim C đều vắng mặt. Tại phiên tòa, bà C tiếp tục vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký

phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực

hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc bà C phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày xét xử và còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ chưa thánh toán theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp

hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Vũ Thị Kim C. Theo phiếu xác minh ngày 11/4/2023 do Công an phường M cung cấp bà C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Ngày 04/5/2020, bà Vũ Thị Kim C ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 14467308/05/2020/AG và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 19.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 26.780.100 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên vay theo các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng đã ký, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị Kim C phải có trách nhiệm trả nợ như trên.

Trong suốt quá trình giải quyết, bà C đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập. Bà C không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy bà đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 14467308/05/2020/AG và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa bên cấp tín dụng Ngân hàng TMCP S với bên vay bà Vũ Thị Kim C để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu bà C có trách nhiệm trả số tiền tạm tính đến ngày 28/6/2023 là 34.713.118 đồng, trong đó: vốn 22.798.580 đồng và lãi 11.914.538 đồng, gồm lãi trong hạn 7.943.025 đồng, lãi quá hạn 3.971.513 đồng. Bà C còn phải lãi phát sinh kể từ ngày 29/6/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng đã ký.

Về án phí: Bà Vũ Thị Kim C phải chịu 1.735.500 đồng án phí dân sự

sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP S được nhận lại 797.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001550, ngày 04/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 357, 463; 466 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Vũ Thị Kim C.

Buộc bà Vũ Thị Kim C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 34.713.118 đồng (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm mười ba nghìn, một trăm mười tám đồng), trong đó: vốn 22.798.580 đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi tám nghìn, năm trăm tám mươi đồng) và lãi tạm tính đến ngày 28/6/2023 là 11.914.538 đồng (Mười một triệu, chín trăm mười bốn nghìn, năm trăm ba mươi tám đồng), gồm: lãi trong hạn 7.943.025 đồng (Bảy triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, không trăm mười lăm đồng), lãi quá hạn 3.971.513 đồng (Ba triệu, chín trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm mười ba nghìn đồng).

Kể từ ngày 29/6/2023, bà Vũ Thị Kim C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

- Về án phí: Bà Vũ Thị Kim C phải chịu 1.735.500 đồng (Một triệu, bảy trăm ba mươi lăm nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP S được nhận lại 797.000 đồng (Bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001550, ngày 04/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh An Giang.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì

người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật Thi hành án)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM

Cỡ chữ