- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần H - Vì Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2022/HS-ST Ngày 20-7-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và bà Hoàng Thị Hội.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Định - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2022/TLST-HS ngày 01/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2022/QĐXXST- HS ngày 07/7/2022 đối với các bị cáo:
1. Trần H, sinh năm 1996 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản A, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Trần V, con bà Trần Thị D; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 22/5/2015 TAND huyện Mộc Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 22/5/2017.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2022 đến nay. Có mặt.
2. Vì Văn K, sinh năm 1997 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vì Văn C và bà Vì Thị T (Đều đã chết), bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không.
- Tiền sự: Ngày 25/12/2018 TAND huyện Mộc Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 26/10/2020. (Chưa được xóa tiền sự)
- Nhân thân: Ngày 14/3/2016 TAND huyện Mộc Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 14/3/2018.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2022 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vì Thị O, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Bản Nà Bó 1, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 12/5/2022, tổ công tác Công an xã Đ, huyện M làm nhiệm vụ tại bản T, xã Đ, huyện M tiến hành kiểm tra xe mô tô BKS: 26H2
- 5062 do Vì Văn K điều khiển, phía sau chở Trần H và Sa Đ, sinh năm: 1990, trú quán tại: Khu 5, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Qua kiểm tra phát hiện Trần H đang cất giấu trong người 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 01 viên nén màu hồng trên bề mặt có chữ WY nghi là Methamphetamine, phát hiện trong mũ bảo hiểm đang đội trên đầu của Vì Văn K có 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 02 gói giấy màu vàng bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 viên nén màu hồng trên bề mặt có chữ WY nghi là Methamphetamine. Trần H và Vì Văn K khai nhận đó là Heroine và Methamphetamine của T và K cùng góp tiền mua để sử dụng chung, việc T và K mua và cất giấu ma túy B không biết và không liên quan. Căn cứ hành vi vi phạm của Trần H và Vì Văn K tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, dẫn giải, bàn giao Trần H và Vì Văn K cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, xử lý.
Ngày 13/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Trần H và Vì Văn K: 01 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Trần H được 0,1 gam, lấy toàn bộ 0,1 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T. Số cục chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Vì Văn K được 0,17 gam, lấy toàn bộ 0,17 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu K1; 01 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Vì Văn K được 0,09 gam, lấy toàn bộ 0,09 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu K2.
Tại Kết luận giám định số 846 ngày 16/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T, K2 đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là T= 0,1 gam; K2 = 0,09 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu K1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là K1 = 0,17 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam; Loại Methamphetamine và 0,17 gam loại Heroine.
Quá trình điều tra Trần H và Vì Văn K khai nhận: K và T có quan hệ quen biết với nhau và cùng đi làm thuê tại bản 19/8, xã M, huyện M. Khoảng 21 giờ ngày 12/5/2022, T rủ K vào bản C, xã Đ để tìm mua ma túy sử dụng, K đồng ý, T có 200.000 đồng, K có 100.000 đồng. Sau đó K điều khiển xe mô tô BKS 26H2 – 5062 chở K đi mua ma túy, trên đường đi K mua xăng hết 50.000 đồng, còn lại 50.000 đồng K đưa T, T có 200.000 đồng. Khi K và T đi đến bản C, xã Đ thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, T hỏi mua được của người đó được 01 gói nilon màu đen đựng Heroine với giá 50.000 đồng và 01 gói nilon màu xanh đựng 04 viên hồng phiến với giá 200.000 đồng, tổng là 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, trên đường về K và T mỗi người sử dụng hết 01 viên hồng phiến và một ít Heroine, số ma túy còn lại Tình gói 01 viên hồng phiến vào mảnh nilon màu xanh và cầm ở lòng bàn tay phải; còn Heroine và 01 viên hồng phiến T gói vào 02 mảnh giấy màu vàng rồi cho vào mảnh nilon màu đen đưa cho K cất giấu vào trong mũ bảo hiểm K đang đội, mục đích sử dụng dần. Trên đường về T và K gặp Sa Đ đang đi bộ, B xin đi nhờ xe máy ra thị trấn M, T và K đồng ý. Khi K điều khiển xe máy chở T và B đi đến khu vực bản T, xã Đ thì gặp tổ công tác Công an xã Đông Sang đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện, thu giữ số ma túy T và K đang cất giấu trong người.
Sa Đ khai nhận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 12/5/2022 khi B đang đi bộ từ xã Đ ra thị trấn M thì gặp và xin đi nhờ xe máy của Vì Văn K và Trần H. Khi đi đến khu vực bản T, xã Đ, huyện M thì bị tổ công tác Công an xã Đ kiểm tra phát hiện T và K đang cất giấu trái phép chất ma túy, việc T và K cất giấu trái phép chất ma túy B không biết và không liên quan.
Tại bản Cáo trạng số 85/CT- VKS ngày 30 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Trần H, Vì Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Trần H, Vì Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với các bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần H từ 21 tháng đến 24 tháng tù.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Văn K từ 21 tháng đến 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Trần H cùng đồng bọn, bắt ngày 12/5/2022 (Vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đông Sang phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Trần H, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính; 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Vì Văn K, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính; 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Sa Đ, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính và 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu màu sơn đen, nhãn hiệu AXE, bên ngoài dòng chữ “ Quan trọng là thần thái” đã qua sử dụng.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu đã giao trả 01 chiếc xe máy biển kiểm soát BKS: 26H2 – 5062 cùng 01 đăng ký xe cho chị Vì Thị O.
- Về án phí: Bị cáo Vì Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần H theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án các bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Các bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Trần H, Vì Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị Công an xã Đông Sang, huyện Mộc Châu thu giữ có nguồn gốc của các bị cáo mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 250.000đ vào ngày 12/5/2022, mục đích để cùng nhau sử dụng. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng các chất ma túy Heroine và Methamphetamine Trần H, Vì Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,19 gam Methamphetamine + 0,17 gam Heroine = 0,36 gam.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Trần H, Vì Văn K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc Tàng trữ, sử dụng ma túy nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 12/5/2022 các bị cáo Trần H, Vì Văn K đã có hành vi tàng trữ 0,19 gam Methamphetamine + 0,17 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo Trần H, Vì Văn K không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về phân hóa vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Bị cáo Trần H là người khởi xướng, trực tiếp mua và cất giấu ma túy nên bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Vì Văn K là người cùng bàn bạc, góp tiền mua ma túy và điều khiển xe máy chở Tình đi mua và cất giấu ma túy nên bị cáo giữ vai trò đồng phạm trong vụ án.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, đều là đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo Trần H có 01 tiền sự đã được xóa theo Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 22/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
Bị cáo Vì Văn K có 02 tiền sự theo Quyết định số 132/QĐ-TA ngày 14/3/2016 và Quyết định số 19/QĐ-TA ngày 25/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, các bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Trần H cùng đồng bọn, bắt ngày 12/5/2022 (Vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Trần H, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính; 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Vì Văn K, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính; 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Sa Đ, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính và 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu màu sơn đen, nhãn hiệu AXE, bên ngoài dòng chữ “ Quan trọng là thần thái” đã qua sử dụng. Xét thấy, đây là những vật không có giá trị và không sử dụng được. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát BKS: 26H2 – 5062 bị cáo Khánh sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của chị Vì Thị O, chị O không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Ngày 15/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trao chiếc xe máy BKS: 26H2 – 5062 cùng giấy đăng ký xe cho chị Vì Thị O là đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[ ] Về các vấn đề khác:
Đối với Sa Đ không liên quan đến hành vi mua, cất giấu ma túy của Vì Văn K và Trần H, do đó, không đề cập biện pháp xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho các bị cáo Trần H và Vì Văn K như các bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
[ ] Về án phí: Bị cáo Trần H thuộc hộ nghèo. Tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Buộc bị cáo Vì Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về thời hạn tạm giam của các bị cáo: Xét thấy,thời hạn tạm giam của các bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Trần H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 13/5/2022.
2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vì Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Xử phạt bị cáo Vì Văn K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 13/5/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với các bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La Công an huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Trần H cùng đồng bọn, bắt ngày 12/5/2022 (Vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Trần H, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính; 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Vì Văn K, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính; 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện Mộc Châu Công an xã Đ phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt có ghi dòng chữ: test ma túy đối với Sa Đ, ngày 13/5/2022, kq: Dương tính và 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu màu sơn đen, nhãn hiệu AXE, bên ngoài dòng chữ “ Quan trọng là thần thái” đã qua sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 114/BBVC-CCTHA ngày 04/7/2022 giữa Công an huyện Mộc Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã giao trả 01 chiếc xe máy biển kiểm soát BKS: 26H2 – 5062 cùng giấy đăng ký xe cho chị Vì Thị O.
4. Về án phí:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần H.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vì Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - THAHS; - Sở Tư pháp ; - Bị cáo; - Người có QLNV liên quan; - Án văn, Lưu HSVA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hƣơng |