- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Tấn T phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 119/2022/HS-ST Ngày 21-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
2. Ông Nguyễn Đức Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2022 và ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 103/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Đào Văn C, sinh năm 1993 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Thôn V, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đào D (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1967; có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2000; vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm1997; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 23/HSST ngày 04/03/2013, Tòa án nhân dân huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2013, đóng án phí ngày 16/9/2013; bản án số 14/HSST ngày 17/04/2015, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh H xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 03/10/2015, đóng án phí ngày 24/10/2016; bản án số 62/HSST ngày 16/03/2017, Tòa án nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh B xử phạt 02 năm 03 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt ngày 23/01/2019, đóng án phí ngày 31/8/2017, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Tấn T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: 380/6 khu phố Đ, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; con ông Nguyễn Tấn K, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Bích Đ, sinh năm 1968; có 02 anh chị em, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1996; có vợ tên Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1988 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2011; tiền án: Bản án số 172/2020/HS-ST ngày 21/05/2020, Tòa án nhân dân thành phố D xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 29/5/2021, đóng án phí ngày 24/9/2020; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 112/HSPT ngày 05/08/2008, Tòa án nhân dân tỉnh B xử phạt 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo thời gian thử thách 12 tháng (tính từ ngày tuyên án phúc thẩm), về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đóng án phí ngày 21/10/2008; Bản án số 222/2014/HSST ngày 24/06/2014, Tòa án nhân dân thị xã D (nay là thành phố D) xử phạt 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 03/10/2014, đóng án phí ngày 29/7/2014; quyết định số 72 ngày 23/01/2017, Tòa án nhân dân thị xã D (nay là thành phố Dĩ An) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Thái Bá T, sinh năm 1982; thƣờng trú: Xóm 6, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; tạm trú: 39/16A T, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trƣơng Văn K, sinh năm 1967; địa chỉ: X12, N, N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
+ Anh Trịnh Ngọc L, vắng mặt.
+ Anh Đậu Thế L, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Đào Văn C và Nguyễn Tấn T là bạn bè quen biết với nhau, không có nghề nghiệp ổn định. Vào khoảng 10 giờ ngày 25/11/2021, Tài và Chức đang đi chơi ở khu Công nghiệp VietSing, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, C rủ T đi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác bán lấy tiền tiêu xài. Chức điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, số khung: RLCUE3220JY097717, số máy: E3X9E478179 gắn biển số 86B1 – 151.26 chở T mang theo 01 túi xách màu đen bên trong có 01 mỏ lết số 12, 01 mỏ lết số 08, 01 cây kéo, 02 kìm cắt, 01 chùm chìa khóa, 01 cán đoản hình chữ T, 01 ống sắt dài 20cm đầu có gắn đoạn sắt chữ L, rồi cả hai đi đến khu vực phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng tìm xe mô tô không có ngƣời trông coi để chiếm đoạt. Trên đƣờng đi, T đổi lên điều khiển xe chở C.
Đến khoảng 12 giờ 17 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đƣờng phía trƣớc dãy trọ địa chỉ 39/16A đƣờng T, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, C nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen – đỏ, biển số 37K1 – 674.61 của anh Thái Bá T đang dựng ở hành lang dãy nhà trọ, không có ngƣời trông coi. C nói cho T biết. T chở C đi vòng qua dãy phòng trọ nhiều lần để quan sát và không thấy ngƣời trông coi nên T dừng xe cách dãy phòng trọ khoảng 05 mét và ngồi lại trên xe cảnh giới. C xuống xe, lấy dụng cụ mở khóa xe mang theo đi vào trong hành lang dãy nhà trọ, đi đến chiếc xe Honda Wave RSX, biến số 37K1 – 674.61 dùng bộ dụng cụ mở khóa xe, rồi đẩy xe ra ngoài nổ máy tẩu thoát.
Sau khi chiếm đoạt đƣợc xe mô tô biển số 37K1 – 674.61, C sử dụng điện thoại hiệu Redmi model M2101K7BG, màu xanh, sim số xxxx.xxx.xxx gọi qua mạng Zalo cho Trịnh Ngọc L, sinh năm: 1985, thƣờng trú: Thôn 2, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và Đậu Thế L, sinh năm: 1990, thƣờng trú: Xóm H, xã X, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để đƣa chiếc xe này đến phòng trọ của L và L ở tại địa chỉ 251/1603 đƣờng Nguyễn Thị Minh K, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để gửi L và L nhƣng L và L không nghe điện thoại. Khi đến dãy nhà trọ, thấy phòng trọ của L và L đã khóa, không có ai ở nhà trọ, C và T dựng xe mô tô biển số 37K1-674.61 ở hành lang trƣớc phòng trọ của L và L, rồi cả hai chạy xe đi.
Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe môtô Yamaha Sirius, số khung: RLCUE3220JY097717, số máy: E3X9E478179 gắn biển số 86B1 – 151.26 chở C đi trên đƣờng Lê Hồng Phong thuộc khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng Tân Đông Hiệp nghi vấn kiểm tra, phát hiện trong túi xách có bộ dụng cụ mở khóa nên đƣa T và C về trụ sở làm việc. Tại Công an phƣờng Tân Đông Hiệp, C và T khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng: 01 USB; 01 túi da caro màu đen; 01 mỏ lết số 12; 01 mỏ lết số 08; 01 cây kéo; 02 kìm cắt; 01 chùm chìa khóa; 01 cán đoản hình chữ T; 01 ống sắt dài 20cm đầu có gắn đoạn sắt chữ L; 01 xe môtô Honda Wave RSX màu đen
- đỏ, biển số 37K1 – 674.61; 01 xe môtô Yamaha Sirius, số khung: RLCUE3220JY097717, số máy: E3X9E478179; 01 biển số xe 86B1-151.26; 01 áo thun màu đỏ, quần jean dài màu xanh của bị cáo C; 01 áo sơmi dài tay sọc ca rô trắng xanh, quần short jean màu xanh của bị cáo T; 01 ĐTDĐ hiệu Redmi model M2101K7BG, màu xanh, sim số xxxx.xxx.xxx của bị cáo Chức; 01 USB ghi lại nội dung vụ việc.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 170/KLĐG-HĐĐGTS ngày 30/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Dĩ An kết luận trị giá xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ, biển số 37K1-674.61 là 5.000.000 đồng.
Tại cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 21 tháng 03 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Đào Văn C và Nguyễn Tấn T về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đào Văn C mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy: 01 túi da caro màu đen; 01 mỏ lết số 12; 01 mỏ lết số 08; 01 cây kéo; 02 kìm cắt; 01 chùm chìa khóa; 01 cán đoản hình chữ T; 01 ống sắt dài 20cm đầu có gắn đoạn sắt chữ L; 01 biển số xe 86B1 – 151.26; 01 áo thun màu đỏ, quần jean dài màu xanh của bị cáo C; 01 áo sơmi dài tay sọc ca rô trắng xanh, quần short jean màu xanh của bị cáo Tài; 01 biển số xe 86B1 – 151.26, sim số xxxx.xxx.xxx.
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động hiệu Redmi model M2101K7BG, màu xanh của bị cáo Chức sử dụng vào việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: T sản bị chiếm đoạt là xe môtô Honda Wave RSX màu đen – đỏ, biển số 37K1 – 674.61, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho bị hại. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Đối với Trịnh Ngọc L, Đậu Thế L không bàn bạc trƣớc với các bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Tấn T chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác rồi mang đến tìm nơi tiêu thụ. Trịnh Ngọc L, Đậu Thế L không biết chiếc xe mô tô Honda Wave RSX màu đen C và T phạm tội đƣợc mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Dĩ An không đề nghị xử lý.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius số máy: E3X9E478179 gắn biển số 86B1 – 151.26: Đào Văn C khai đã mƣợn chiếc xe trên của một ngƣời đàn ông tên T (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) để làm phƣơng tiện đi lại. Đến ngày 25/11/2021, bị cáo C sử dụng chiếc xe để làm phƣơng tiện phạm tội.
Quá trình điều tra xác định: Xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, số khung: RLCUE3220JY097717, số máy: E3X9E478179 có biển số thật là biển số 47U1-138.18 do chị Đinh Thị Thu U, sinh năm: 2000, thƣờng trú: Thôn 5, xã T, huyện K, tỉnh Đ làm chủ sở hữu. Vào khoảng 21 giờ ngày 08/11/2021, chị U dựng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47U1 – 138.18 ở khu để xe của dãy nhà trọ tại địa chỉ 92E/18, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng rồi đi ngủ. Khoảng 05 giờ ngày 09/11/2021, chị Uyên thức dậy phát hiện chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47U1 – 138.18 đã bị mất. Chị U đến Công an phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng trình báo sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An có Công văn thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng biết và chuyển giao xe mô tô này xử lý theo thẩm quyền.
Đối với biển số xe 86B1 – 151.26: Qua xác minh tại đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Dĩ An xác định đây là biến số của chiếc mô tô nhãn hiệu GANASSI màu xanh do anh Nguyễn Thanh T (sinh năm 1991, thƣờng trú: DP 27, thị trấn P, huyện T, tỉnh B) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, anh Nguyễn Thanh T xác định không có đứng tên mua chiếc xe mô tô nào có đặc điểm nhƣ trên.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận đối đáp gì. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình tố tụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 giờ 17 phút ngày 25/11/2021, tại nhà trọ địa chỉ 39/16A đƣờng T, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Đào Văn C và Nguyễn Tấn T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen – đỏ, biển số 37K1 – 674.61 trị giá 5.000.000 đồng của anh Thái Bá T. Hành vi phạm tội trên của Đào Văn C và Nguyễn Tấn T đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 21 tháng 03 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣnng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, bị Nhà nƣớc nghiêm cấm nhƣng vì tham lam tƣ lợi nên các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.
Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không phân công vai trò cụ thể. Trong vụ án này, bị cáo C là ngƣời rủ bị cáo T và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T là giúp sức cho bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Văn C: Không có. Bị cáo Nguyễn Tấn T: Bản án số 172/2020/HS-ST ngày 21/05/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chƣa đƣợc xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý là tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Đối với bị cáo Đào Văn C và bị cáo Nguyễn Tấn T có nhân thân xấu đã bị xét xử nhiều lần nhƣng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thƣờng pháp luật và tính không hƣớng thiện của các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là xe môtô Honda Wave RSX màu đen – đỏ, biển số 37K1 – 674.61 đã trả lại cho bị hại. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp: Xét 01 túi da caro màu đen; 01 mỏ lết số 12; 01 mỏ lết số 08; 01 cây kéo; 02 kìm cắt; 01 chùm chìa khóa; 01 cán đoản hình chữ T; 01 ống sắt dài 20cm đầu có gắn đoạn sắt chữ L; 01 biển số xe 86B1 – 151.26; 01 áo thun màu đỏ, quần jean dài màu xanh của bị cáo Chức; 01 áo sơmi dài tay sọc ca rô trắng xanh, quần short jean màu xanh của bị cáo Tài; sim số xxxx.xxx.xxx các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 điện thoại di động hiệu Redmi model M2101K7BG, màu xanh, của bị cáo Chức sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc.
Đối với biển số xe 86B1 – 151.26: Qua xác minh tại đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Dĩ An xác định đây là biến số của chiếc mô tô nhãn hiệu GANASSI màu xanh do anh Nguyễn Thanh T (sinh năm: 1991, thƣờng trú: DP 27, thị trấn P, huyện T, tỉnh B) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh Nguyễn Thanh T xác định không có đứng tên mua chiếc xe mô tô nào có đặc điểm nhƣ trên. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 86B1 – 151.26.
Đối với Trịnh Ngọc L, Đậu Thế L không bàn bạc trƣớc với các bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Tấn T về việc trộm cắp tài sản của ngƣời khác rồi mang đến tìm nơi tiêu thụ. Trịnh Ngọc L, Đậu Thế L không biết chiếc xe mô tô Honda Wave RSX màu đen C và T lấy trộm đƣợc mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Dĩ An không đề nghị xử lý.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius số máy: E3X9E478179 gắn biển số 86B1 – 151.26, Đào Văn C khai đã mƣợn chiếc xe trên của một ngƣời đàn ông tên T (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) để làm phƣơng tiện đi lại. Đến ngày 25/11/2021, bị cáo C sử dụng chiếc xe để làm phƣơng tiện phạm tội. Quá trình điều tra xác định: Xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, số khung: RLCUE3220JY097717, số máy: E3X9E478179 có biển số thật là biển số 47U1-138.18 do chị Đinh Thị Thu U làm chủ sở hữu. Vào khoảng 21 giờ ngày 08/11/2021, chị U dựng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47U1 – 138.18 ở khu để xe của dãy nhà trọ tại địa chỉ 92E/18, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng rồi đi ngủ. Khoảng 05 giờ ngày 09/11/2021, chị U thức dậy phát hiện chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47U1 – 138.18 bị mất. Chị U đến Công an phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng trình báo sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An có Công văn thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng biết và chuyển giao xe mô tô xử lý theo thẩm quyền.
Hình phạt chính: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Tấn T phạm tội trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đào Văn C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2021.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 túi da caro màu đen; 01 mỏ lết số 12; 01 mỏ lết số 08; 01 cây kéo; 02 kìm cắt; 01 chùm chìa khóa; 01 cán đoản hình chữ T; 01 ống sắt dài 20cm đầu có gắn đoạn sắt chữ L; 01 biển số xe 86B1 – 151.26; 01 áo thun màu đỏ, quần jean dài màu xanh; 01 áo sơmi dài tay sọc ca rô trắng xanh, quần short jean màu xanh; 01 biển số xe 86B1 – 151.26; sim số xxxx.xxx.xxx
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Redmi model M2101K7BG, màu xanh.
(Theo biên bản giao nhận ngày 22/3/2022).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Tấn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - Các bị cáo (02); - Ngƣời tham gia tố tụng (02); - VKSND TP Dĩ An (01); - Công an TP Dĩ An (01); - Trại giam CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Chi cục THADS TP Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi bị cáo cƣ trú (02); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); -VKSND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT,HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thị Hiền |