vanban.org

Bản án 119/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Dương Sanh H số tiền vốn vay là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 119/2022/DS-ST
Ngày: 30/12/2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức;

2. Ông Phan Minh Quốc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 199/2022/TLST-DS ngày 17/10/2022 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2022/QĐXXST-DS ngày 30/11/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 269/2022/QĐST-DS ngày 21/12/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Sanh H, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Trung Bình Nhất, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx

2. Bị đơn:

2.1. Ông Hà Tấn A, sinh năm 1950 (vắng mặt)

2.2. Bà Phạm Thị B, sinh năm 1956 (vắng mặt)

2.3. Anh Hà Hữu C, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Trung Bình Nhất, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Dương Sanh H trình bày: Ngày 17/4/2022, ông Dương Sanh H có cho bị đơn là ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C vay số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), hai bên giao tiền và có làm biên nhận cùng ngày, bị đơn vay tiền sử dụng vào mục đích để sinh hoạt trong gia đình. Chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay trong hợp đồng trên là của ông A, bà B, anh C viết, ký, lăn tay. Nội dung biên nhận nợ ngày 17/4/2022 chỉ ghi ông A, bà B và anh C có nợ ông H số tiền là 40.000.000 đồng, lãi trả hàng tháng và hẹn đến ngày 16/4/2023 sẽ trả gốc đầy đủ, biên nhận không đề cập lãi suất nhưng theo nguyên đơn lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/tháng. Từ ngày vay đến nay, dù ông H đã liên hệ đòi nhiều lần nhưng bị đơn không trả lãi hàng tháng đúng hạn. Nhận thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nay nguyên đơn ông Dương Sanh H yêu cầu bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C phải liên đới trả cho ông số tiền nợ vay gốc là 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C đã được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bà thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu cầu của nguyên đơn, nhưng ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C vẫn vắng mặt không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến của ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B, và anh Hà Hữu C.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C phải liên đới trả cho ông Dương Danh Hùng số tiền nợ vay gốc là 40.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên không xem xét. Yêu cầu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông A, bà B và anh C.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Sanh H thấy rằng: Biên nhận nợ ngày 17/4/2022 do ông H xuất trình có chữ viết, chữ ký, dấu vân tay của bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C; ông A, bà B và anh C không có ý kiến gì đối với biên nhận nợ này nên việc ông A, bà B và anh C còn nợ ông H số tiền 40.000.000 đồng là có thật và theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là việc không cần phải chứng minh, có cơ sở xác định giữa ông H và ông A, bà B và anh C có xác lập hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay này của ông H và ông A, bà B và anh C, là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự giao kết hợp đồng, xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung không vi phạm điều cấm và không trái pháp luật; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này là hợp pháp theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã giao kết. Xét thấy, hai bên thỏa thuận thời hạn trả gốc là ngày 16/4/2023, tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa đến hạn thanh toán nợ gốc, tuy nhiên ông A, bà B và anh C đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ lãi hàng tháng cho bên vay theo thỏa thuận dù ông H đã đòi nhiều lần là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi nên ông H khởi kiện yêu cầu ông A, bà B và anh C trả tiền vốn 40.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466, khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải nộp toàn bộ án phí là 5% giá ngạch giá trị tài sản tranh chấp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Dương Sanh H số tiền vốn vay là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành án được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Hà Tấn A, bà Phạm Thị B và anh Hà Hữu C phải nộp 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn ông Dương Sanh H không phải chịu án phí nên được nhận lại 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009427 ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ