- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty X - Truong Thị TT"
- Tòa quyết gì? 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 119/2022/DS-ST Ngày: 29 - 9 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Trọng Điền;
- Ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố K, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên toà: Bà
Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 112/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm
2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 202/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2022, giữa:
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ X, trụ sở chính:
phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, chức vụ: Giám đốc, là người đại diện theo
pháp luật;
- Ông Trần Hữu Ý, chức vụ: Nhân viên Công ty luật TNHH MTV Đại
Long; địa chỉ: Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, là người đại diện theo ủy
quyền theo văn bản ủy quyền lại số 175/UQTT-DLO.22 ngày 04/6/2022; (có
mặt).
Bị đơn: Ông Trương Thị TT, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ 05, ấp M, xã
V, thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 25/11/2017, bà Trương Thị TT có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm
hợp đồng tín dụng số 20171129-0000849 với Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (sau đây gọi tắt là Công ty tài chính SMBC) vay số tiền 42.200.000 đồng; lãi suất 3.75%/tháng; mục đích vay tiêu dùng cá nhân; thời hạn vay 24 tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng bà TT có trách nhiệm thanh toán số tiền 66.459.235 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng, 23 tháng đầu mỗi tháng trả 2.697.378 đồng, tháng cuối cùng trả 4.419.541 đồng, bắt đầu từ ngày 12/01/2018.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà TT đã trả được số tiền 32.520.000 đồng,
kể từ ngày 28/5/2019 đến nay bà TT không thực hiện đúng cam kết về việc trả nợ gốc, lãi mặc dù đã được công ty tài chính nhắc nhở nhiều lần.
Ngày 29/3/2021, khoản nợ của bà TT được Công ty tài chính TNHH
Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC chuyển nhượng cho công ty TNHH mua bán nợ X theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003.
Do đó, công ty TNHH mua bán nợ X khởi kiện yêu cầu bà TT có nghĩa
vụ thanh toán số tiền là 33.939.235 đồng.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện là: đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 25/11/2017; hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003 ngày 29/3/2021; bảng kế hoạch trả nợ; lịch sử thanh toán và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương
Thị TT trình bày: Xác định vào ngày 25/11/2017 có ký hợp đồng tín dụng với Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC vay số tiền 42.200.000 đồng, tuy nhiên số tiền thực tế nhận là 40.000.000 đồng; hiện còn nợ Công ty tài chính SMBC số tiền 33.939.235 đồng. Do hoàn cảnh hiện đang khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.
Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành, bị đơn
có đơn yêu cầu vắng mặt tham gia hòa giải và vắng mặt khi vụ án đưa ra xét xử.
Tại phiên tòa,
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như
đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp
hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền,
nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án
tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án thấy rằng, thỏa thuận vay nợ giữa Công ty tài chính TNHH Ngân hàng
Việt Nam Thịnh Vượng SMBC với bà TT được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có
lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật. Đồng thời, xét thấy việc Công ty tài
chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC có thỏa thuận chuyển
giao quyền yêu cầu đối với khoản nợ của bà TT sang cho Công ty TNHH mua
bán nợ X là phù hợp quy định pháp luật, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của bà TT. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà TT vi phạm nghĩa vụ
thanh toán nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay nên Công ty
TNHH mua bán nợ X khởi kiện yêu cầu bà TT trả một lần số tiền còn nợ là có
căn cứ chấp nhận.
Đối với việc bà TT xin trả dần mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi dứt
nợ, không được phía Công ty TNHH mua bán nợ X chấp nhận nên không có cở
sở xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng
năm 2010; các Điều 365, 450, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
* Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty TNHH mua bán
nợ X khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị TT trả nợ vay. Bà TT đang cư trú trên địa
bàn thành phố K nên yêu cầu kiện của Công ty TNHH mua bán nợ X thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà TT vắng mặt tại phiên tòa và
có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà
TT.
* Về nội dung:
Về quyền khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 25/11/2017, giữa Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng
Việt Nam Thịnh Vượng SMBC với bà Trương Thị TT ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20171129-0000849. Đến ngày 29/3/2021, khoản nợ của bà TT được Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC chuyển nhượng cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ X theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Việc Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC chuyển giao quyền yêu cầu cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ X không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà TT, phù hợp với quy định tại Điều 365, 450 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ X có quyền khởi kiện yêu cầu bà TT về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng tín dụng:
Đơn đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20171129-0000849
ngày 25/11/2017 giữa Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC với bà TT được ký kết trên cơ sở tự nguyện hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.
Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở đơn đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng
tín dụng số 20171129-0000849 ngày 25/11/2017, bà TT được Công ty tài chính SMBC cho vay số tiền 42.200.000 đồng, bà TT cho rằng thực tế chỉ nhận 40.000.000 đồng nhưng ngoài lời trình bày bà TT không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Bà TT thừa nhận, sau khi nhận tiền vay, bà TT đã trả được số tiền 32.520.000 đồng, còn nợ lại nguyên đơn 33.939.235 đồng.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Do bà TT vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty TNHH mua bán nợ X
khởi kiện yêu cầu bà TT trả nợ là phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Vì vậy, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH mua bán
nợ X; buộc bà TT trả cho Công ty TNHH mua bán nợ X số tiền 33.939.235 đồng.
Về phương thức thanh toán:
Bà TT có yêu cầu được trả dần mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi dứt
nợ nhưng không được Công ty TNHH mua bán nợ X chấp nhận. Cho nên, phương thức thanh toán sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà TT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho
Công ty TNHH mua bán nợ X là 1.696.962 đồng.
Công ty TNHH mua bán nợ X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
hoàn lại cho Công ty TNHH mua bán nợ X số tiền tạm ứng án phí 848.481 đồng
đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 365, 450, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
mua bán nợ X.
Buộc bà Trương Thị TT trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán
nợ X số tiền 33.939.235 (ba mươi ba triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn, hai
trăm ba mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trương Thị TT phải chịu 1.696.962 (một triệu, sáu trăm chín mươi
sáu nghìn, chín trăm sáu mươi hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ X không phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ X số tiền
tạm ứng án phí đã nộp 848.481 (tám trăm bốn mươi tám nghìn, bốn trăm tám
mươi mốt) đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0002262 ngày 27
tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An
Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty Trách nhiệm hữu hạn
mua bán nợ X có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bà Trương Thị TT được tính là 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. K (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS TP.K (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phí Thị Phương Nhung |