vanban.org

Bản án 119/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Hà Minh Đ 01 (một) N 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm Q định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 02 (hai) N 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Q định của luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Q định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Qết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của b…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Minh Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Hà Minh Đ 01 (một) N 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm Q định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 02 (hai) N 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN LỤC N
TỈNH B GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2021/HS-ST
Ngày 14-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC N, TỈNH B GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thu Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh;

2. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục N, tỉnh B Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục N, tỉnh B Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 N 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục N, tỉnh B Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 11 N 2021, theo Qết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 N 2021 đối với bị cáo:

Hà Minh Đ, sinh N 1994; tên gọi khác: Không có;

Nơi sinh và cư trú: Tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện H, tỉnh B Giang; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ học vấn: 12/12; đảng, chính Qền, đoàn thể: Không; con ông: Hà Hồng Q và bà Nguyễn Minh N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo đầu thú; hiện tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Ông Trịnh Xuân N, sinh N 1951 (đã chết)

- Những người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Vi Thị N, sinh N 1955 (vắng mặt)

2. Anh Trịnh Xuân B, sinh N 1980 (vắng mặt)

3. Anh Trịnh Viết B, sinh N 1982 (vắng mặt)

4. Anh Trịnh Việt N, sinh N 1989 (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: Thôn Kép 2A, xã H, huyện L, tỉnh B Giang.

Đều ủy Quyền cho anh Trịnh Viết B, sinh N 1982; cư trú tại: Thôn Kép 2A, xã H, huyện L, tỉnh B Giang (Văn bản ủy Qền ngày 20/9/2021)

- Người có Qền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV Thương mại và Xây dựng Hà Q.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Hồng Q, sinh N 1959 (Giám đốc công ty); địa chỉ: Tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện H, tỉnh B Giang (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Minh Đ có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B Giang cấp ngày 16/4/2014. Khoảng 09 giờ ngày 21/8/2021, Hà Minh Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại ECOSPORT, BKS 98A-074.19 của Công ty TNHH MTV Thương mại và xây dựng Hà Q đi từ Công ty TNHH Yến Anh có địa chỉ ở xã Đèo Gia, huyện L để đưa bố đẻ là ông Hà Hồng Q, sinh N 1959, trú tại tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện H, tỉnh B Giang về nhà (ông Q ngồi ở ghế phụ phía trước bên phải). Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận thôn Nghè 3, xã Tiên Nha, huyện Lục N, Đ quan sát thấy có 01 xe ô tô Container đi phía trước, cùng chiều với xe Đ điều khiển. Khi xe ô tô BKS 98A-074.19 do Đ điều khiển cách xe ô tô Container khoảng 02 mét thì Đ bật xi nhan trái đồng thời đánh lái sang bên trái để vượt xe ô tô trên. Khi xe của Đ đang ở phần đường phía bên trái theo chiều đi thì phát hiện xe mô tô BKS 98B1-708.76 do ông Trịnh Xuân N đi ngược chiều. Do khoảng cách gần và không kịp xử lý, xe ô tô do Đ điều khiển đã va chạm với xe mô tô do ông N điều khiển. Hậu quả, ông N bị thương nặng và tử vong.

Cùng ngày, Hà Minh Đ đã đến Công an huyện Lục N đầu thú và tự nguyện giao nộp: 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Hà Minh Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh B Giang cấp ngày 16/4/2014, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô mang tên Công ty TNHH MTV và xây dựng Hà Q, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 4451129 cấp cho xe ô tô biển số 98A - 074.19, 01 giấy biên nhận thế chấp số 03/BIDV-BG-GBN ngày 05/01/2021 của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt N, 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đối với xe ô tô biển số 98A - 074.19.

Ngày 25/8/2021, anh Trịnh Viết B, sinh N 1982, trú tại thôn Kép 2A, xã H, huyện L (là con của nạn nhân N) đã tự nguyện giao nộp: 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Trịnh Xuân N.

Ngay sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục N đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường (tạm giữ 01 xe mô tô BKS 98B1-708.76 và xe ô tô BKS 98A-074.19); khám nghiệm tử thi; khám nghiệm phương tiện và tiến hành xác minh, điều tra theo Q định của pháp luật.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận thôn Nghè 3, xã Tiên Nha, huyện Lục N. Đoạn đường thẳng, mặt đường bê tông trải rộng 6,4m, lề đường đất bên phải rộng 1,8m, lề đường đất bên trái rộng 0,4m. Trên lề đất bên phải có đặt biển báo giao nhau với đường không ưu tiên.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự: Dấu vết mài trượt bám dính vật chất màu nâu đen ký hiệu (1), dấu vết cày xước trên mặt đường ký hiệu (2), vùng mảnh vỡ ký hiệu (3), xe mô tô biển số 98B1- 708.76 ký hiệu (4), xe ô tô biển số 98A- 074.19 ký hiệu (5), dấu vết vật chất màu nâu đỏ ký hiệu (6).

Trên lề đất bên trái có đặt cột mốc trên có ký tự “H6-22” chọn làm mốc chuẩn, chọn mép trái đường là mép chuẩn.

Mô tả dấu vết tại hiện trường:

- Dấu vết mài trượt bám dính vật chất màu nâu đen ký hiệu (1) trên mặt đường có chiều hướng từ L tới thành phố B Giang. Điểm đầu dấu vết cách mốc chuẩn 14,7m về phía L, cách mép chuẩn 0,5m, điểm cuối dấu vết cách mép chuẩn 4,3m, dấu vết dài 29m, rộng 0,2m.

- Dấu vết cày xước trên mặt đường, dạng chùm không liên tục ký hiệu (2), dấu vết có chiều hướng từ L tới thành phố B Giang, điểm đầu dấu vết cách điểm đầu dấu vết (1) là 2,9m, cách mép chuẩn 1,1m. Điểm cuối dấu vết trùng với điểm đầu để chân trước bên phải xe mô tô biển số 98B1 - 708.76, cách mép chuẩn 1,3m. Dấu vết dài 23,3m, rộng 1,2m.

- Vùng dấu vết các mảnh vỡ rải rác trên mặt đường ký hiệu (3) có điểm gần nhất cách điểm đầu vết (1) là 2,4m, cách mép chuẩn 1,5m, vùng dấu vết có kích thước 24,3x1,7m, điểm gần nhất của vùng dấu vết trùng với trục bánh trước xe mô tô biển số 98B1- 708.76.

- Xe mô tô biển số 98B1- 708.76 đổ nghiêng phải trên mặt đường, trục bánh trước cách điểm đầu vết (2) là 23,1m, cách mép chuẩn 1,5m; trục bánh sau cách mép chuẩn 0,7m, ký hiệu vị trí xe mô tô biển số 98B1- 708.76 là (4), có đầu xe quay hướng L, đuôi xe hướng B Giang.

- Xe ô tô biển số 98A- 074.19 đỗ trên đường ký hiệu (5) đầu xe quay hướng thành phố B Giang, đuôi xe quay hướng L, có trục bánh sau trái cách trục bánh trước xe mô tô (4) là 8,9m về phía thành phố B Giang, cách mép chuẩn 4,3m, trục bánh trước bên trái cách mép chuẩn là 4,2m.

- Trên lề đất bên trái cách mốc 2,4m về phía L, cách mép chuẩn 0,3m phát hiện vùng dấu vết vật chất màu nâu đỏ bám dính trên cây cỏ, đất đá trên diện 30cmx15cm ký hiệu (6).

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Các tổn thương sưng nề, biến dạng, sây sát, rách, xước, trợt da, bầm tím tập trung tại các vị trí: Đầu - mặt, ngực - bụng, bìu, tứ chi; hai lỗ mũi có máu không đông chảy từ trong ra; gãy hở hai xương cẳng tay hai bên; gãy đốt sống cổ C2; gãy cung trước xương sườn 4 bên phải, gãy cung trước xương sườn từ 03 đến 09 bên trái; giải phẫu cẳng tay phải: Bầm dập tổ chức dưới da, cơ; hệ thống mạch máu tổn thương phức tạp ở nhiều vị trí, qua các vị trí tổn thương máu đỏ vẫn chảy ra.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1478/KL-KTHS, ngày 21/9/2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Giang, kết luận: Nguyên nhân chết của Trịnh Xuân N do đa chấn thương: chấn thương cột sống cổ, chấn thương ngực kín, gãy hở hai xương cẳng tay. Các tổn thương cơ thể nạn nhân Trịnh Xuân N được hình thành do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẵn theo nhiều chiều hướng tạo nên. Trong đó tổn thương biến dạng, gãy xương được hình thành với lực tác động mạnh tạo nên.

* Kết quả khám phương tiện:

Khám xe mô tô biển số 98B1- 708.76:

- Bánh trước bị hết hơi, săm lốp bung bật khỏi vị trí cố định, trên mặt lăn bánh lốp trước có vùng dấu vết trượt xước bám dính vật chất dạng mài màu nâu trắng, trên diện kích thước (20x8)cm, điểm gần nhất cách dòng số 2 của dòng chữ số “250.17” bên má lốp trái là 35cm ngược chiều kim đồng hồ.

- Vành xe kim loại bánh trước bị đẩy cong gập móp méo biến dạng, chiều lực tác động từ ngoài vào trong tâm bánh xe trên diện kích thước (40x30)cm gần hai vùng theo chiều từ trước về sau lần lượt là vùng (1) và vùng (2). Vùng (1) có tâm vùng này tương ứng với vết trượt xước bám dính vật chất trên mặt lăn bánh lốp cách chân van 10cm theo chiều ngược kim đồng hồ, các nan hoa trên vành xe bị đẩy cong gẫy rụng bật khỏi vị trí cố định. Vùng (2) có dấu vết bẹp lõm theo hướng từ ngoài vào tâm. Tâm vùng dấu vết cách chân van 58cm theo chiều ngược chiều tiến của bánh xe tương ứng vị trí tâm vùng ngày trên mặt lăn bánh lốp có vùng móp méo biến dạng cao su chiều hướng từ ngoài vào trong tâm.

- Hai càng xe phía trước bị đẩy xô lệch khỏi vị trí cố định theo chiều từ trước về sau, từ trái qua phải.

- Trên mặt trước càng xe phía trước bên trái có vùng dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu xanh trên diện kích thước (21x3)cm, điểm cao nhất vùng này cách mặt đất là 50cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 30cm, dấu vết có chiều hướng từ trước về sau.

- Chắn bùn trước bánh trước bị vỡ rời khỏi xe, phần cuối chắn bùn có vùng nứt vỡ nhựa kích thước (20x12)cm, toàn bộ mặt nạ phía trước bị đẩy xô lệch từ trước về sau móp méo, trên có vùng trượt xước kích thước (24x12)cm. Điểm thấp nhất vùng này các mặt đất 96cm, cách yếm hai bên bị bung bật nứt vỡ khỏi vị trí cố định.

- Cụm đèn chiếu sáng phía trước, đèn tín hiệu bung bật rời khỏi xe, không còn hai gương chiếu hậu, ốp nhựa, đồng hồ công tơ mét bung bật rời khỏi xe.

- Mặt sau của đầu tay nắm bên phải có dấu vết trượt xước kim loại mài rách cao su, kích thước (5x3)cm, chiều hướng từ sau về trước.

- Để chân trước bên phải bị đẩy xô lệch khỏi vị trí cố định theo chiều hướng từ sau về trước, đầu để chân bị rách thủng cao su hở kim loại, đầu kim loại có dấu vết trượt xước kích thước (1,5x1,5)cm. Mặt ngoài cần chân phanh có dấu vết trượt trước kim loại bám dính chất bột màu trắng kích thước (2x7)cm.

- Mặt ngoài bên phải tay xách sau có vùng đấu vết mài trượt cao su kích thước (22x4)cm, sườn xe bên phải mài trượt nhựa kích thước (22x3)cm. Vùng cuối ốp kim loại ngoài ống xả có vùng mài trượt kim loại bẹp lõm kích thước (6x4)cm.

- Trên mặt ngoài chắn bùn sau phía trước có dấu vết tì ấn in hằn dạng hình đầu ốc hình tròn bên trong có hình lục giác làm vỡ nhựa kích thước (4x3)cm.

Khám xe ô tô BKS 98A - 074.19:

- Lưới tản nhiệt phía trước bung rời khỏi xe, thanh kim loại ngang phía trước bị đẩy cong gập theo chiều từ trước về sau, trên có bám dính rải rác vật chất màu nâu đen trên diện kích thước (32x14)cm, tâm vùng này cách mặt đất 53cm, cách cạnh xe bên trái 55cm. Dưới khu vực gập có gắn dính giữa phần thanh kim loại và két nước mảnh nhựa màu sơn đỏ kích thước (7x9)cm. Mặt ngoài cản đà trước có vùng bẹp lõm nhựa, trên vùng này có rải rác các dấu vết trượt xước bám dính bụi in phần vân lốp trên diện kích thước (40x30)cm.

- Cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bên trái bị bung lệch khỏi vị trí cố định, vỡ ốp nhựa phía trước.

- Ốp nhựa phía trước đầu xe bị bung bật khỏi vị trí cố định, gãy rời phần góc bên trái phía trước nắp ca pô bị đẩy cong kim loại theo chiều hướng từ trước về sau, vùng kích thước (125x26)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 95cm, điểm cao nhất cách mặt đất 104cm, trên vùng này có rải rác các dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu đỏ chiều hướng từ trước về sau trên diện (30x25)cm, điểm gần nhất cách cạnh trái 58cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 94cm.

- Mặt trước góc bên phải nắp ca pô có vùng dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu nâu đen kích thước (38x25)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 96cm, điểm cao nhất cách mặt đất 110cm.

- Kiểm tra phương tiện bên trong: Nổ 02 túi khí phía trước và 04 túi khí rìa hai bên.

Tại kết luận giám định số 1518/KL-KTHS ngày 29/9/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Giang kết luận:

- Dấu vết vỡ, hằn lõm, trượt xước sơn, nhựa, kim loại in hình vân lốp và găm mảnh nhựa màu đỏ ở bên trái cản trước, bên trái lưới tản nhiệt trước và bên trái thanh kim loại đầu xe (sắt xi) của xe ô tô biển số 98A - 074.19 (ảnh 35 - ảnh 41 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ khuyết, chùn cong, trượt xước sơn, nhựa, kim loại dính chất màu nâu ở lốp bánh trước và chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển số 98B1 - 708.76 (ảnh 5 - ảnh 9 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết hằn lõm, trượt xước sơn, kim loại ở nắp ca pô trước và ba đờ sốc trước của xe ô tô biển số 98A - 074.19 (ảnh 42,43,44 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ khuyết, trượt xước sơn, nhựa, cao su ở đầu tay nắm bên trái, mặt nạ đầu xe, cụm đèn trước của xe mô tô biển số 98B1- 708.76 (ảnh 10, 11 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết cày xước mặt đường dạng không liên tục ký hiệu số 2 được hình thành do quá trình sau khi va chạm xe mô tô biển số 98B1- 708.76 đổ nghiêng phải, đồng thời đầu để chân trước bên phải và đầu tay nắm bên phải tiếp xúc, rê trượt trên mặt đường tạo nên.

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 98A- 074.19 với xe mô tô biển số 98B1

- 708.76 tại trước điểm đầu dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 2 (ảnh 17 - ảnh 28 bản ảnh khám phương tiện), thuộc phần đường bên trái theo hướng L - B Giang.

- Không đủ điều kiện để xác định được tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 19/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục N kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 98A - 074.19 với xe mô tô biển số 98B1- 708.76 là 28.364.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải Qết vụ án, bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Trịnh Xuân N là bị hại tổng số tiền 300.000.000 đồng. Gia đình ông N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Đối với thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại ECOSPORT, BKS 98A

- 074.19, ông Hà Hồng Q - Giám đốc Công ty TNHH MTV Thương mại và xây dựng Hà Q không yêu cầu Hà Minh Đ phải bồi thường.

Vật chứng: Ngày 01/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục N đã ra Qết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại các đồ vật, tài liệu đã thu giữ, tạm giữ (gồm xe ô tô, xe mô tô, các giấy tờ tài liệu liên quan như đã nêu ở trên) cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp của nạn nhân.

01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Hà Minh Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh B Giang cấp ngày 16/4/2014 chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 15 tháng 11 N 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục N, tỉnh B Giang, đã truy tố Hà Minh Đ về tội “Vi phạm Q định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.

- Tại phiên tòa bị cáo khai: Nội dung Bản cáo trạng nêu bị cáo có hành vi lái xe ô tô gây tai nạn làm ông N chết là hoàn toàn đúng. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã xin lỗi và bồi thường cho gia đình bị hại 300.000.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS, xử phạt: Hà Minh Đ từ 12 – 15 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm Q định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 24 - 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh B Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Gia đình bị hại không đề nghị bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Hà Minh Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh B Giang cấp ngày 16/4/2014.

Ngoài ra còn đề xuất giải Qết về án phí và Qền kháng cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát luận tội và đề xuất quan điểm giải Qết vụ án bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Những người đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Đánh giá tính hợp pháp về hành vi, Qết định tố tụng của Cơ quan điều tra

- Công an huyện Lục N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục N, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm Qền, trình tự, thủ tục Q định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Qết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó cần xác định các hành vi, Qết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục N và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng pháp luật.

Đánh giá chứng cứ:

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Minh Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản đầu thú và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Hà Minh Đ có giấy phép lái xe theo Q định. Khoảng 09 giờ ngày 21/8/2021 Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại ECOSPORT, BKS 98A-074.19 của Công ty TNHH MTV Thương mại và xây dựng Hà Q đi từ Công ty TNHH Yến Anh có địa chỉ ở xã Đèo Gia, huyện L, tỉnh B Giang để đưa bố đẻ là ông Hà Hồng Q về nhà, đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận thôn Nghè 3, xã Tiên Nha, huyện Lục N, Đ quan sát thấy có 01 xe ô tô Container đi phía trước, cùng chiều với xe Đ điều khiển. Khi xe ô tô do Đ điều khiển cách xe ô tô Container khoảng 02 mét thì Đ bật xi nhan trái đồng thời đánh lái sang bên trái để vượt xe ô tô trên. Khi xe của Đ đang ở phần đường phía bên trái theo chiều đi thì phát hiện xe mô tô BKS 98B1-708.76 do ông Trịnh Xuân N điều khiển đi ngược chiều. Do khoảng cách gần và không kịp xử lý nên xe ô tô do Đ điều khiển đã va chạm với xe mô tô do ông N điều khiển. Hậu quả ông N bị thương nặng và tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của bị cáo.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm Q định về tham gia giao thông đường bộ” Q định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.

Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục N đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người bị hại, gây mất mát đau thương cho những người thân của họ. Do đó, phải xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi Qết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiện hình sự đối với bị cáo.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và được đại diện bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, ngoài ra bị cáo còn ra đầu thú, có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến, bản thân bị cáo có thành tích học tập xuất sắc đây là những tình tiết giảm nhẹ qui định điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào Q định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét thấy: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo.

Theo Q định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 đến 05 N. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải Qết vụ án, bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Trịnh Xuân N là bị hại tổng số tiền 300.000.000 đồng. Gia đình ông N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Đối với thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại ECOSPORT, BKS 98A - 074.19, ông Hà Hồng Q - Giám đốc Công ty TNHH MTV Thương mại và xây dựng Hà Q không yêu cầu Hà Minh Đ phải bồi thường nên không xem xét.

Vật chứng: Ngày 01/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục N đã ra Qết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại các đồ vật, tài liệu đã thu giữ, tạm giữ (gồm xe ô tô, xe mô tô, các giấy tờ tài liệu liên quan như đã nêu ở trên) cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp của nạn nhân là đúng Q định.

01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Hà Minh Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh B Giang cấp ngày 16/4/2014 cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí và Qền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST. Bị cáo, đại diện bị hại có Qền kháng cáo theo Q định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS; Điều 136, 331 và Điều 333 của BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị Qết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Q định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Hà Minh Đ 01 (một) N 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm Q định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 02 (hai) N 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND Thị trấn T, huyện H, tỉnh B Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Q định của luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Q định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Qết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS

- Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Hà Minh Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh B Giang cấp ngày 16/4/2014.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Qền thoả thuận thi hành án, Qền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; Thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (tiền án phí không tính lãi).

4. Về Qền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được Qền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có Qền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ