- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kha Quang H và Lữ Quốc Tr - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:119/2021/HS-ST Ngày: 20-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Xã Thị Cẩm Tú. Nghề nghiệp: Cán bộ huyện đoàn.
2. Ông Thái Đình Thanh. Nghề nghiệp: Cán bộ.
Thư ký phiên toà: Ông Già Bá Lầu. Thư ký - Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Kha Quang H; tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 18 tháng 8 năm 1998 tại xã TC, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Bản CT, xã TC, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kha Hải T và bà Lương Thị Đ; Vợ con: Chưa có. Tiền án; Tiền sự : Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Họ và tên: Lữ Quốc Tr; tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 01 tháng 12 năm 2003 tại xã BL, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Bản B, xã BL, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Đình Ph và bà Vi Thị Q (tên gọi khác Vi Mẹ Y); Vợ con: Chưa có. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lữ Quốc Tr: Anh Lữ Đình Ph sinh năm 1976. Trú tại: Bản B, xã BL, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. (Cha đẻ của bị cáo) Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Kha Quang H: Bà Phan Thị Thanh - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An. Có mặt;
- Người bào chữa cho các bị cáo Lữ Quốc Tr: Bà Vũ Thị Hồng - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An. Có mặt;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Vy Văn T, sinh năm 1972, trú tại: Bản NhM, xã NhM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Vy Long Nh, sinh năm 2000. Trú tại: Bản Nh M, xã NhM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Vi Văn H, sinh năm 1975; Trú tại: Bản N, xã HL, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 09/6/2021, Kha Quang H và Lữ Quốc Tr cùng nhau góp tiền để đi tìm mua ma túy để sử dụng, Lữ Quốc Tr mượn xe máy của anh Vy Long Nh, sinh năm 2000, trú tại bản NhM, xã NhM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và chở Kha Quang H đến khu vực bản Na Lượng 2, xã Hữu Kiệm, huyện Kỳ Sơn thì gặp một người thanh niên không quen biết đứng bên cạnh đường, Kha Quang H xuống xe để trao đổi thì được người thanh điều khiển xe máy chở H và Tr sang bên đường đất thuộc bản Xốp Nhị, xã Hữu Lập, huyện Kỳ Sơn. Tại đây Tr góp số tiền 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng) còn H góp số tiền 60.000 đ (Sáu mươi nghìn đồng) rồi đưa cho người thanh niên đó đi mua ma túy, khoảng 30 phút sau thì quay lại đưa cho H 01 (một) gói bên trong chứa 06 (sáu) viên ma túy. Sau khi mua được ma túy người thanh niên đó tiếp tục điều khiển xe máy chở H và Tr đi về, khi về đến gần khu vực cầu treo thuộc bản Xốp Nhị, xã Hữu Lập thì bị tổ công tác Công an các xã Hữu Lập, Na Loi và thị trấn Mường Xén phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số viên nén màu hồng (nghi là ma túy) và 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn: Xám - Đen - Cam, biển kiểm soát: 37D1- 101.77. Còn người thanh niên điều khiểu xe máy chở H và Tr đã lợi dụng sơ hở trốn thoát.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 10/6/2021 đã xác định: 06 (sáu) viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Kha Quang H và Lữ Quốc Tr sau khi loại bỏ bao bì có tổng khối lượng 0,6g (không phẩy sáu gam). Để có cơ sở kết luận, hội đồng đã lấy 02 (hai) viên nén màu hồng có khối lượng 0,2g (không phẩy hai gam) từ vật chứng thu giữ của Kha Quang H và Lữ Quốc Tr để gửi đi giám định.
Kết luận giám định số 931/KL- PC09(Đ2-MT) ngày 13/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lữ Quốc Tr và Kha Quang H gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine).
Cáo trạng số 106/CT-VKS-KS ngày 11/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã truy tố Kha Quang H và Lữ Quốc Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Kha Quang H và Lữ Quốc Tr đã khai nhận hành vi của mình với các tình tiết như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thừa nhận có góp tiền để mua ma túy với mục đích là để sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Kha Quang H và Lữ Quốc Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Kha Quang H từ 19 (Mười chín) đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lữ Quốc Tr từ 13 (Mười ba) đến 16 (Mười sáu) tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lữ Quốc Tr trình bày: Việc bị cáo Tr phạm tội gia đình đã biết, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và để có cơ hội lao động trở thành người có ích cho xã hội.
Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội, bị cáo Lữ Quốc Tr phạm tội ở độ tuổi vị thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của đề nghị Viện Kiểm Sát để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, tuy nhiên xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo Kha Quang H và Lữ Quốc Tr tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thấp được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 09/6/2021, tại khu vực bản Xốp Nhị, xã Hữu Lập, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Kha Quang H và Lữ Quốc Tr đang có hành vi tàng trữ trái phép 06 (sáu) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,6g (không phẩy sáu gam) nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an các xã Hữu Lập, Na Loi và thị trấn Mường Xén phát hiện bắt quả tang. Vì vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội: Hành vi của các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Khi phạm tội các bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất Nhà nước cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, các bị cáo đang trong độ tuổi học tập và lao động nhưng các bị cáo lại ham chơi đua đòi dẫn đến nghiện ma túy, đã bất chấp quy định của pháp luật để đi mua ma túy để sử dụng chứng tỏ các bị cáo có thái độ xem thường pháp luật làm ảnh hưởng tới an ninh trật tự tại địa phương, các bị cáo thường xuyên đi khỏi nơi cư trú và là đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy, hành vi đó của các bị cáo phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo, vừa răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Kha Quang H và Lữ Quốc Tr đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xét thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, các bị cáo đã cùng nhau bàn bạc và thống nhất với nhau để góp tiền và đi tìm mua ma túy, không xác định ai là người khởi xướng trong vụ án, tuy nhiên bị cáo Kha Quang H là người thực hiện hành vi tích cực nhất, còn bị cáo Lữ Quốc Tr cũng đã chủ động trong việc góp tiền đi mua ma túy, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm tướng xứng với hành vi của các bị cáo đã thực hiện. Đối với bị cáo Lữ Quốc Tr khi thực hiện hành vi vi phạm là người dưới 18 tuổi phạm tội, khi thực hiện hành vi bị cáo 17 tuổi 6 tháng 8 ngày nên cần áp dụng những quy định của Chương XII – Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Thấy rằng các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không có công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Đối với người thanh niên đã đi mua ma túy cho các bị cáo khi bị bắt giữ đã lợi dụng sử sơ hở bỏ trốn, trong quá trình điều tra chưa xác minh được tên tuổi và địa chỉ ở đâu nên cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra khi nào có kết quả sẽ được xử lý.
Vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của Kha Quang H và Lữ Quốc Tr sau khi đã trích gửi đi giám định thì số còn lại là 0,4g (Không phẩy bốn) gam ma túy (Methamphetamine) đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu hủy. Đối với xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn: Xám - Đen - Cam, biển kiểm soát: 37D1- 101.77 mà Lữ Quốc Tr đã mượn của anh Vy Long Nhật sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định xe máy thuộc sở hữu của anh Vy Văn Tâm, sinh năm 1972, trú tại bản Nhôn Mai, xã Nhôn Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã cho con trai là anh Vy Long Nhật mượn đi lại. Anh Nhật và anh Tâm không biết các bị cáo sử dụng xe máy vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Lữ Quốc Tr, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Kha Quang H: 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2021.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lữ Quốc Tr 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy phong bì thư bưu điện được dán kín, ở mép dán có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong, chữ ký của Kha Quang H và Lữ Quốc Tr, trong đó phong bì thư thu giữ của bị cáo bên trong chứa 0,4 g (Không phẩy bốn) gam ma túy (Methamphetamine). Vật chứng đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 30 phút ngày 11/8/2021.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Kha Quang H và Lữ Quốc Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - Công an huyện Kỳ Sơn; - Bị cáo; Người có QLNVLQ. - Người đại diện hợp pháp; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |