- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn giữa chị Thanh và anh Thuần"
- Tòa quyết gì? 1 - Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2021/HNGĐ - ST Ngày: 09 - 7 - 2021. V/v ly hôn giữa chị Th và anh T. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Đức Khang.
2. Bà Dương Thị Vui.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2021/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th – Sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ dân phố x, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định.
+ Bị đơn: Anh Trần Văn T – Sinh năm 1967. Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố x, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Ninh Khánh.
Tại phiên tòa có mặt chị Th, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 12/4/2021 cũng như lời khai chị Nguyễn Thị Th tại những buổi làm việc với Toà án và tại phiên toà thể hiện: Chị kết hôn với anh Trần Văn T vào tháng 04/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vào đầu năm 2017 anh T vi phạm pháp luật và bị xử phạt là hình phạt tù. Hiện anh T đang chấp hành án tại trại giam Ninh Khánh. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Chị xác định giữa chị và anh T không có con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn T vắng mặt nhưng anh T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt. Lời khai của anh Trần Văn T tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Anh kết hôn với chị Th vào tháng 04/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến cuối năm 2016 anh đã phạm tội và bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 18 năm tù và hiện anh đang chấp hành án tại trại giam Ninh Khánh. Nay chị Th xin ly hôn anh thì anh nhất trí thuận tình ly hôn với chị Nguyễn Thị Th. Do anh đang chấp hành án trong trại giam, nên anh đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng anh không có con chung.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 55 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Văn T. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Th phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Văn T đều cư trú tại huyện Nghĩa Hưng. Nay chị Nguyễn Thị Th có đơn xin ly hôn anh Trần Văn T và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại phiên Tòa hôm nay anh Trần Văn T vắng mặt nhưng anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Văn T vào tháng 04 năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, anh T đã phạm tội và bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 18 năm tù và hiện anh T đang chấp hành án tại trại giam Ninh Khánh. Vợ chồng chị Th anh T sống ly thân nhau từ năm 2017 đó cho đến nay. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh T đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị Th xin ly hôn anh T và anh T cũng nhận trí thuận tình ly hôn vì vậy nên chấp nhận là phù hợp.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Văn T đều thống nhất vợ chồng anh chị không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Văn T đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị Th phải nộp theo quy định của pháp luật.
Xét để nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1 - Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Trần Văn T.
2 - Về án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị Th phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp theo biên lai số AA/2019/0004188 ngày 20/04/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Th, vắng mặt anh T. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Nghĩa Hưng; - UBND thị trấn R; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Văn Chủng |