vanban.org

Bản án 119/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 19/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đặng Công D 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 15/7/2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số: 228/GĐ-MT ngày 23/7/2020 của Phòng KTHS Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Công Dũng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2020/HSST
Ngày: 19/11/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Mai Hồ Hải Thành

+ Ông Nguyễn Kim Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Sơn Trà.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2020/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2020/QĐXX-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

- Họ và tên: ĐẶNG CÔNG D

Giới tính: Nam;

- Tên gọi khác: Không;

- Sinh năm: 1989 tại Đà Nẵng;

- HKTT: Tổ 5, phường P, quận S, TP Đà Nẵng;

- Chỗ ở: Số 19 đường H, phường A, quận S, TP Đà Nẵng;

- Nghề nghiệp: Không;

- Trình độ học vấn: 12/12;

- Quốc tịch: Việt Nam.

- Dân tộc: Kinh;

-Tôn giáo: Không;

- Tiền án: Ngày 15/6/2017, bị TAND quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

- Tiền sự: Không;

- Con ông: Đặng Công T (Chết) và bà: Phan Thị T (Chết);

- Gia đình có bốn anh em, bị cáo là con thứ hai;

- Bị cáo bị bắt ngày 15/7/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời làm chứng:

- Ông Đặng Công D1, sinh năm: 1988. Trú tại: Số 19 đường H, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Ông Đặng Công D2, sinh năm: 1992. Trú tại: Số 19 đường H, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Ngƣời chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1977. Trú tại: Tổ 88, phường A, quận S, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ ngày 15/7/2020, Đội CSĐT tội phạm về ma tuý Công an quận Sơn Trà phối hợp với Công an phường A tiến hành kiểm tra hành chính tại số nhà 19 Hoàng Bích Sơn, phường A, quận Sơn Trà thì phát hiện trong nhà đang có 03 đối tượng tên Đặng Công D, Đặng Công D1 (SN 1988), Đặng Công D2 (SN 1992) cùng trú tại 19 Hoàng Bích Sơn, phường A. Kiểm tra tại phòng ngủ tầng 1 thì phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, tiếp tục kiểm tra thì lực lượng công an phát hiện tại góc tường sát cửa sắt phía trước nhà có 01 gói thuốc lá hiệu con ngựa, bên trong có 01 gói nylông kích thước (4x5) cm bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Dũng khai nhận đó là ma tuý tổng hợp dạng đá Dũng mua của đối tượng tên Ý (Không rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 14/7/2020 với số tiền 1.400.000 đồng tại trường Tôn Thất Tùng (phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà) về nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho con nghiện kiếm lời nhưng chưa bán thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Qua điều tra xác định, Đặng Công D1 và Đặng Công D2 không biết việc Dũng mua ma tuý về sử dụng và bán lại kiếm lời. Bản thân Dương và Duy không sử dụng trái phép chất ma tuý. CQĐT đã tiến hành xét nghiệm đối với Dương và Duy, kết quả âm tính với ma tuý.

* Tang vật thu giữ:

- 01 gói nylong kích thước (4x5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, niêm phong ký hiệu D;

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý;

- 01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu đen.

Tại Kết luận giám định số: 228/GĐ-MT ngày 23/7/2020 của Phòng KTHS Công an TP Đà Nẵng xác định: Tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu D gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu D: 1,890 gam.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 111/CT-VKS ngày 12/10/2020 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Đặng Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Công D từ 48 tháng đến 54 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt 15/7/2020.

Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số: 228/GĐ-MT ngày 23/7/2020 của Phòng KTHS Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 1,724 gam ma tuý, loại Methamphetamine – là khối lượng ma tuý hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm nỏ thủy tinh và bình nhựa.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Đặng Công D.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Đặng Công D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể: Vào lúc 19 giờ 15 phút ngày 21/4/2019, tại số nhà 19 Hoàng Bích Sơn, phường A, quận Sơn Trà, Đặng Công D bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật khi đang có hành vi cất giấu 1,890 gam ma tuý, loại Methamphetamine mà Dũng đã mua của đối tượng tên Ý (không rõ nhân thân, lai lịch) trước đó nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân và bán lại kiếm lời.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở xác định hành vi của Đặng Công D đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 111/CT-VKS ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đặng Công D là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Ma túy tổng hợp Methamphetamine là loại độc chất có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bị cáo Đặng Công D nhận thức được điều đó, song để phục vụ cho nhu cầu bản thân, hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy bị cáo đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, là hành vi cố ý và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có 01 tiền án, Ngày 15/6/2017, bị TAND quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được chưa được xoá án tích nên ở lần phạm tội này phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Xác định số ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành và những dụng cụ dùng để sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ : 01 phong bì niêm phong số: 228/GĐ-MT ngày 23/7/2020 của Phòng KTHS Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 1,724 gam ma tuý, loại Methamphetamine – là khối lượng ma tuý hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm nỏ thủy tinh và bình nhựa.

Đối với 01 điện thoại di động có ghi chữ Oppo màu đen của Đặng Công D đã dùng vào việc phạm tội, xét thấy còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà , thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2020)

Đối với Đặng Công D2, và Đặng Công D1, do không biết việc Dũng mua ma tuý về nhằm mục đích bán lại và không liên quan đến hành vi phạm tội của Dũng nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đặng Công D, Công an quận Sơn Trà ra Quyết định xử lý hành chính là phù hợp.

Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tại phiên tòa về tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với quan điểm xử lý vụ án của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST: Bị cáo Đặng Công D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đặng Công D 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 15/7/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số: 228/GĐ-MT ngày 23/7/2020 của Phòng KTHS Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 1,724 gam ma tuý, loại Methamphetamine – là khối lượng ma tuý hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm nỏ thủy tinh và bình nhựa.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động có ghi chữ Oppo màu đen của Đặng Công D.

(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2020).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đặng Công D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ