vanban.org

Bản án 119/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 63 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Samsung màu vàng đen số Imel 357751072684290, 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã vỡ màn hình số Imel 352002061335599 và 550.000 đồng theo biên bản giao nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thành - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
T PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2020/HS-ST
Ngày 26-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, T PHỐ HẢI PHÒNG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 286/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Hà T (tên gọi khác Hà Văn T), sinh ngày 19 tháng 8 năm 1973, tại Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 8 khu 5 phường T, Thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà T (Hà Văn Tuất) (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: Án số 177 ngày 06/9/2010 Tòa án nhân dân T phố Hạ Long xử 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; nhân thân: Án số 53 ngày 20/4/1991 Tòa án nhân dân huyện Hòn Gai xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản XHCN và 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Án số 1552 ngày 27/11/1991 Tòa án nhân dân tối cao xử 12 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam. Tổng hợp với án số 53 ngày 20/4/1991, phải chấp hành 21 tháng tù; Án số 326 ngày 16/3/1995 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản XHCN và 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Án số 52 ngày 04/5/1995 Tòa án nhân dân T tỉnh Quảng Ninh xử 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Tổng hợp với án số 326 ngày 16/3/1995, phải chấp hành 10 năm tù; Án số 06 ngày 10/01/2007 Tòa án nhân dân T phố Hạ Long xử 36 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đều đã được xóa án); bị bắt, tạm giữ ngày 12/02/2020, tạm giam ngày 17/02/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/02/2020, tổ công tác Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an phường Cát Dài làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực trước cửa nhà số 22 Trần Nguyên Hãn thì phát hiện Lê Thanh Phúc (sinh năm 1964, nơi cư trú: số 05/48/30 Trần Nguyên Hãn, phường Cát Dài, quận Lê Chân, Hải Phòng) điều khiển xe máy chở phía sau là Hà T có biểu hiện nghi vấn tội phạm về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì phát hiện tại vị trí túi quần bên phải phía trước T đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 2 x 2,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đá (mẫu số 1); 01 gói giấy vở học sinh màu trắng, kích thước 1 x 2cm và 01 gói giấy vở học sinh màu trắng kích thước 1 x 1cm, bên trong đều chứa chất bột màu trắng, nghi là Heroine (mẫu số 2). Tổ công tác đã đưa T về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của T số tiền 550.000 đồng, 01 điện thoại Samsung màu vàng, 01 điện thoại Iphone màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 63/KLGĐ(Đ6) ngày 12/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an T phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,49 gam, là loại Methamphetamine. Chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,25 gam, là loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Hà T khai nhận: Khoảng 06 giờ ngày 12/02/2020, T đi ôtô khách từ nhà ở Quảng Ninh đến Hải Phòng để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. T thuê xe ôm của một người không quen biết đến đầu khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn rồi T xuống xe một mình đi vào trong ngõ, gặp và mua của 01 người nữ giới đeo khẩu trang (không rõ lai lịch) 1.600.000 đồng Heroine và 400.000 đồng ma túy đá, nhận 01 túi nilon bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 2 x 2,5cm chứa ma túy đá; 01 gói giấy vở học sinh màu trắng, kích thước 1 x 2 cm và 01 gói giấy vở học sinh màu trắng, kích thước 1 x 1cm, bên trong đều chứa Heroine. T cất số ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải phía trước rồi đi ra đầu ngõ thì thuê xe ôm của Lê Thanh Phúc chở ra bến xe. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 22 Trần Nguyên Hãn thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng. T không có quan hệ với Lê Thanh Phúc, Phúc không biết việc T mua và cất giữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, ngày 12/02/2020 là lần thứ hai T mua ma túy của người nữ giới tại khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, T không nhận dạng được người nữ giới bán ma túy.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định, 01 điện thoại Samsung màu vàng, 01 điện thoại Iphone màu trắng và 550.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 24/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Hà T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Hà T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Hà T với mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 63 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Samsung màu vàng đen; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng và 550.000 đồng. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, T phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hà T đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,49 gam Methamphetamine và 2,25 gam Heroine, tổng khối lượng là 2,74 gam ma túy nhằm mục đích sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Hà T đủ yếu tố cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo có 06 tiền án: án số 53 ngày 20/4/1991, án số 1552 ngày 27/11/1991, án số 326 ngày 16/3/1995, án số 52 ngày 04/5/1995, án số 06 ngày 10/01/2007 đều đã được xóa án tích, trong đó 01 tiền án số 177 ngày 06/9/2010 chưa được xóa án nên phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo T khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 63 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Samsung màu vàng đen số Imel 357751072684290, 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã vỡ màn hình số Imel 352002061335599 và 550.000 đồng vì không phải là tiền, phương tiện phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 550.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với T khai trước ngày bị bắt đã 01 lần mua ma túy của một nữ giới (không rõ lai lịch) tại khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng. Ngoài lời khai của T, cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ khác nên không có cơ sở kết luận.

Đối với người nữ giới đã bán ma túy cho T vào ngày 12/02/2020 do T không biết họ tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với Lê Thanh Phúc quá trình điều tra xác định Phúc không biết, không tham gia cùng T tàng trữ trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hà T (Hà Văn T) 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 12/02/2020.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 63 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Samsung màu vàng đen số Imel 357751072684290, 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã vỡ màn hình số Imel 352002061335599 và 550.000 đồng theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 27/7/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, T phố Hải Phòng nhưng tiếp tục tạm giữ 550.000 (năm trăm năm mươi nghìn) đồng để đảm bảo thi hành phần án phí, số tiền còn thừa trả lại cho bị cáo.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Hà T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Hà T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ