- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Thành - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Vi Văn Th, bên trong ch…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:119/2020/HS-ST Ngày:23/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dềnh Chá Xìa.
2. Bà Vi Thị Khiểu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2020/TLST-HS, ngày 03 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2020/QĐXXST-HS ngày 9 tháng 9 năm 2020 đối với:
Bị cáo Vi Văn Th. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 10 năm 1962 tại xã TĐ, huyện TD, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản P, xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn L (đã chết) và bà Lô Thị L (đã chết). Có vợ: Kha Thị T, sinh năm 1962 Con có 04 con lớn nhất sinh năm 1980 nhỏ nhất sinh năm 1994, Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 78/2018/HSST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2020 cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Thị Thanh. Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người chứng kiến: Lương Văn M, Sinh năm 1990. Nơi cư trú: Bản Kh N, xã ChL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 01/7/2020, Vi Văn Th đi bộ từ nhà của mình lên khu vực rừng thuộc bản Hồng Tiến, xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Th gặp một người đàn ông tên là Vi Văn Sẩn là người cùng bản với Th. Gặp nhau Sẩn hỏi Th “Đi đâu đấy?”, Th trả lời “Đi tìm mua ma túy về sử dụng” Sẩn nói “Mua đây này”. Sau đó Sẩn bán cho Th 01 (Một) bao Potylen màu trắng, bên trong có chứa 25 (Hai mươi lăm) gói Heroine, được gói bằng các bao mảnh giấy trắng có chữ với giá 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng). Sau khi mua được Heroine, Th cầm trên tay trái của mình, rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 10 giờ, ngày 01/7/2020, Th đang trên đường về đến khu vực bờ sông thuộc bản Hồng Tiến, xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn phối hợp với ban Công an xã Chiêu Lưu bắt quả tang.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 01/7/2020 đã xác định: Chất màu trắng (nghi là Heroine) thu giữ của Vi Văn Th sau khi đã loại bỏ bao bì có tổng khối lượng 0,45g (Không phẩy bốn mươi lăm gam). Hội đồng đã trích 0,1 g (Không phẩy một gam) để gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 987/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 6/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Vi Văn Th gửi tới giám định là ma túy (Heroine).
Cáo trạng số 113/CT-VKS-HS ngày 29/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An truy tố Vi Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vi Văn Th mức án từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Vi Văn Th, bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,35 g (Không phẩy ba mươi lăm gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của mức án mà đại diện Viện Kiểm Sát đã đề nghị.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn Th đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 01/7/2020, tại khu vực bản Hồng Tiến, xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn phối hợp với ban Công an xã Chiêu Lưu bắt quả tang Vi Văn Th đang có hành vi tàng trữ 0,45 g (Không phẩy bốn mươi lăm gam) Heroine với mục đích để sử dụng, Vi Văn Th là người có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) với khối lượng là 0,45 g (Không phẩy bốn mươi lăm gam) thì bị Công an huyện Kỳ Sơn phát hiện và bắt quả tang. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu Th tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiệm trọng; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất Nhà nước nghiêm cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, bị cáo có từng bị kết án về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, hiện nay chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân mà bị cáo hiện nay lại nghiện ma túy và tiếp tục thực hiện hành phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự . Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo Th công dân có ích và phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, Không có công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Vi Văn Th, bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,35 g (Không phẩy ba mươi lăm gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên Vi Văn Sẩn trú tại bản Pủng, xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã bán ma túy cho Vi Văn Th, quá trình điều tra, xác minh hiện nay không có mặt tại địa phương Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vi Văn Th: 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 01/7/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Vi Văn Th, bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,35 g (Không phẩy ba mươi lăm gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu. (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vi Văn Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vi Văn Th có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Công an huyện Kỳ Sơn; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - UBND xã Lưu Kiền, H. Tương Dương. - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |